Tạp Chí Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt Nam Tự Do Dân Chủ
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada
Phone+Fax: (604) 875-9022 - Sau 6PM (604) 879-1179
Email: nsvietnam@yahoo.com

Cập nhật hóa hàng ngày
Chủ Biên: Hải Triều
Ðại diện nhóm Úc châu: Người Quan Sát  - Ðại diện nhóm Âu châu: Trần Phượng Hoàng - Ðại diện nhóm Hoa Kỳ: Hoa Sơn Kiếm - Ðại diện nhóm nội địa: Hồng Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những người góp phần đấu tranh cho một Việt Nam tự do, thực hiện bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành trên toàn thế giới.
Các Số Báo Cũ
Hà Thúc Sinh
Hoàng Ngọc Liên
Kathy Trần
Lâm Chương
Lâm Lễ Trinh
Ngàn Giọt Lệ Rơi
Nguyễn Thanh Hoàng
Phạm Văn Nhàn
Phan Nhật Nam
Phó Thường Dân
Sổ Tay Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Trần Viết Ðại Hưng
Tài Liệu - Góp Nhặt
Nối Kết

Bài Mới Nhất

CON VỊT



.
Nhóm những nhà văn quân đội
Gía 25US$


Tác giả Trần Gia Phụng.
In lần thứ 2 - 28CAN$/22US$


Chiến sử QLVNCH của Phạm Phong Dinh - Tái bản lần 2.
35CAN$/25US$ *


Tự truyện - Nguyễn Thị Hải
14CAN$/10US$ *


Tác giả Bùi Ngọc Tấn.
25CAN$/20US$
(Ở Mỹ bán 35US$).

* Giá bán kể cả cước phí.
Liên lạc: NS Việt-Nam.


 Nguyệt-San Việt-Nam Số 65
Tháng 02&03/2003

Phong trần đa sự

1. Tội ác và bí ẩn về cái chết của Stalin.

MOSCOW - Năm mươi năm trước đây, ngày mồng Năm tháng Ba năm 1953, Joseph Stalin qua đời. Là một nhà độc tài quyết định vận mạng của hàng triệu ngườiá dân Liên Xô, ông Stalin khi còn sống đã trở thành biểu tượng của sự tàn bạo và thời kỳ ông cầm quyền là giai đạon đen tối nhất trong lịch sử nước Nga và Ðông Âu ở thế kỷ 20. Bản thân Stalin đã ra lệnh giết rất nhiều người nhưng cái chết của ông cho đến nay vẫn còn là điều bí ẩn. Tuy vậy, các nghiên cứu lịch sử gần đây có vẻ như cho rằng chính Stalin đã bị ám sát. Các tài liệu lịch sử của Liên Xô đều thống nhất ở những điểm chính về những ngày cuối cùng của Stalin, chẳng hạn như những ai ở gần ông ta nhất trong thời gian đó và họ làm gì cùng Stalin.

Trong đêm ngày 28 tháng Hai năm 1953, Stalin xem phim ở điện Kremlin cùng nhóm thân cận nhất trong bộ Chính trị trung ương đảng Cộng sản Liên Xô là Lavrenty Beria, Nikita Khrushchev, Nicolai Bulganin và Georgi Malenkov. Sau khi xem phim họ về dinh tư ở ngoại ô Matxcova của Stalin và đến chừng 1 giờ sáng ngày Một tháng Ba, các vị khách về nhà của họ. Nhưng những gì xảy ra sau đó đã gây ra câu hỏi. Ðó là chuyện Stalin ra lệnh cho các cận vệ riêng đi ngủ. Việc này rất bất thường và nó đã khiến sử gia người Nga Edvard Radzinski để tâm tìm hiểu. Ông Radzinski đã tìm lại chính một trong những vệ sĩ của Stalin làm việc đêm hôm đó là Pyotr Lozgachev. theo lời ông Lozgachev thì không phải Stalin mà người trưởng nhóm vệ sĩ Khrustalev đã bảo cấp dưới về nghỉ đêm đó. Sáng hôm sau, khi tỉnh đậy họ đợi tới 12 giờ trua, rồi 2 giờ chiều vẫn không thấy Stalin ra khỏi phòng. Những người cận vệ tuy lo sợ nhưng không dám vào phòng đánh thức Stalin đậy. Ðến 6.30 tối, có ai đó bật đèn trong phòng Stalin. Những người cận vệ thấy an tâm hơn và yên trí rằng Stalin đã đậỵ Ông ta vốn có thói quen làm việc đêm và đậy rất muộn. Nhưng đến 10 giờ đêm vẫn không thấy Stalin ra khỏi phòng. Lozgachev quyết định đến đập của và hỏi" "Ðồng chí Stalin ơi, đồng chí có khoẻ không? Không nghe tiếng trả lời, Lozgachev đẩy cửa vào thì thấy Stalin nằm vật vã trên nền nhà, hơi thở phì phò, nặng nhọc, tờ báo Pravda rơi bên cạnh. Ðồng hồ trên tay Stalin chỉ 6 giờ 30. Theo Lozgachev thì đó là giờ phút có điều gì đó xảy ra. Ðiều lạ tiếp theo là sau khi những người cận vệ gởi điện báo cho Bộ Chính trị thì họ phải đợi rất lâu mới có người đến khám cho Stalin. Ðến ngày mồng Năm thì Stalin qua đời. Theo sử gia Edvard Radzinski thì theo lệnh của trùm công an KGB Lavrenty Beria, chính đội trưởng cận vệ Khrustalev đã tiêm thuốc độc vào người Stalin.

Nhưng câu hỏi là tại sao nhóm người thân cận nhất của Stalin phải giết ông ta? Theo sử gia Radzinski thì vào thời điểm đó, Stalin đã quyết định gây chiến với Mỹ, làm nổ ra thế chiến lần thứ Ba để đem toàn bộ châu Âu về tay Matxcova. Những người thân cận với ông ta thì biết rằng nền kinh tế Xô Viết đã hoàn toàn kiệt quệ sau thế chiến thứ Hai, quân đội Liên Xô cũng chưa kịp phục hồi và việc đương đầu với một cường quốc đã có vũ khí hạt nhân như Mỹ là chuyện điên rồ. Nhóm Beria, Malenkov và Khrushchev muốn ngăn chặn điều này. Stalin muốn khiêu khích Tây phương bàng một chiến dịch tiêu diệt người Do Thái. Chính Beria biết được rằng Stalin đã ra lệnh thực hiện việc bắt hàng loạt người Nga gốc Do thái ở toàn thành phố Matxcova vào ngày mồng Năm tháng Ba. Có những người nói là họ đã thấy các xe khách được điều đến thủ đô để chậu bị đưa người Do thái đi đàỵ tại Kazachstan người ta đã đụng những khu lều trại sẵn sàng đón họ.

Sau cái chết của Stalin, Liên Xô bước vào thời đại tan bang, từ các trại tập trung khắp vùng Siberia, những cựu sĩ quan Hồng Quân, các đảng viên cộng sản và vô số người khác được thả về, trong số họ có cả con dâu và cháu gái Stalin, những người bị Stalin cho đi tù. Hàng triệu người dân các dân tộc thiểu số bị Stalin bắt đi đày cũng dần được cho về quê quán.

Tại đại hội 20 đảng Cộng sản Liên Xô, bản báo cáo của Nikita Khrushchev về các tội ác của Stalin đã gây chấn động trong phe cộng sản. Quá trình sựa sai diễn ra ở nhiều nước cộng sản, với mức độ tùy theo nhận thức của giới lãnh đạo các nước đó. Tuy vậy, vẫn có những quốc gia tiếp tục coi Stalin là thần tượng hoặc một đề tài cấm kỷ không được nói đến. tại những nước này những bí ẩn quanh cái chết của Stalin vẫn là một điều ít người được biết đến. Trong khi Liên xô, và Ðông Âu cái nôi của CS đã treo cổ tượng Satin thì CSVN, trùm VC Tố Hữu ca ngợi Stalin với những câu u tối bịp bợm như sau: Ông Stalin ơi! Ông Stalin ơi! 

Hỡi ôi Ông mất! Ðất trời có không? 
Thương cha thương mẹ thương chồng 
Thương mình thương một thương Ông thương mười
....
Con còn bé dại con ơi 
Mai sau con nhé trọn đời nhớ Ông
Thương Ông mẹ nguyện trong lòng 
Yêu làng yêu nước yêu chồng yêu con 
Ông dù đã khuất không còn
Chân Ông còn mãi dấu son trên đường
(BBC 5/3/03 -Trích internet)


2. Ai phản bội ai?

Một số nhân vật Việt Mỹ đã hội thảo tại Paris trong tháng 1.2003 vừa qua để kỷ niệm 30 năm ngày ký Hiệp Ðịnh Ba Lê 1973. Nhân dịp này nguyệt san Thông Luận tháng 2.2003 đã đăng bài viết của tác giả Nguyễn Gia Kiểng dưới tiêu đề "Ai phản bội aỉ". Trong bài viết, ông Kiểng đã đưa ra một số nhận định như sau: (nguyên văn bài trên website Thông Luận www.thongluan.org) 

- Lý do căn bản nhất về cái chết củaViệt Nam Cộng Hòa là vì "chưa hề bao giờ nó là một quốc gia", và đã được khai sinh một cách vô ý thức trên một chiến hạm Pháp, đậu ngoài khơi Vịnh Hạ Long. 

- Theo ông Kiểng, ngay cái quốc hiệu VNCH cũng sai văn phạm (thay vì phải gọi là Cộng Hòa VN). Miền Nam chưa bao giờ có một ý niệm quốc gia sáng sủa để người dân gắn bó với chế độ. 

- Cấp lãnh đạo của VNCH với khẩu khí, tư cách, tầm thường yếu kém, không có được "ùmột nửa " bản lãnh của Hồ Chí Minh và đàn em ông ta. 

- Mỹ không hề phản bội VNCH vì Hoa Kỳ chưa bao giờ giúp quốc gia nào nhiều như giúp VNCH... 

Người viết bài này có vài ý kiến sau đây về các nhận định trên của ông Nguyễn Gia Kiểng. 

Ðiều có thể khẳng định ngay, xuyên suốt trong chiến tranh, và càng rõ hơn ở thời điểm ngày hôm nay, là: trong cuộc chiến Quốc Cộng vừa qua, Miền Nam đã có chính nghĩa hơn, vì chỉ chiến đấu tự vệ, chống trả lại ý đồ của Miền Bắc muốn áp đặt một thể chế mà mọi người đã rõù: toàn trị và man rợ. Nhất là trận chiến này đã diễn ra trong bối cảnh, không phải là để giành độc lập thống nhất như Hà Nội thường rêu rao, mà là trong kế hoạch toàn cầu của một khối CS quốc tế hung hãn (trong đó có Bắc Việt) muốn dùng vũ lực áp đặt khắp nơi chủ nghĩa Cộng Sản.

Nhận định này không phải là chủ quan của người Miền Nam, mà ngay cả những người CS như Dương Thu Hương ngày nay cũng đã xác nhận, là Miền Nam có mô hình "văn minh" hơn (nguyên văn) và Miền Bắc mới là "man rợ". Còn chuyện hai Miền Nam Bắc đều bị hai khối CS và Tư Bản (Mỹ) xía vào, chi phối cuộc chiến, không thể làm mất đi cái bản chất chính nghĩa của Miền Nam. 

Sau khi đã xác nhận và chấp nhận thực tế đó, nghĩa là chính nghĩa thuộc về Miền Nam, thì mọi chuyện còn lại chỉ là phụ thuộc. Chẳng hạn như: 

1) Ông Kiểng nói "VNCH chưa bao giờ là một quốc gia, và được thành lập trên một chiến hạm Pháp"...Thế nào là một "Quốc gia"? Một miền đất với mấy chục triệu dân, đa số không chấp nhận CS, có một tập thể Quân đội chiến đấu, đổ nhiều xương máu vì một chính nghĩa trong hai chục năm, giữ cho CS khỏi xâm nhập, chưa đủ là một quốc gia saỏ Hơn nữa, tại Hội nghị Genève 1954, đã có 5 cường quốc họp để xác nhận có 2 quốc gia riêng biệt tại hai bờ vĩ tuyến 17. Và nhờ vậy, ông Kiểng cùng một số đông sinh viên khác đã được du học ngoại quốc với đầy đủ quyền lợi, do mang chiếu khán

của cái quốc gia ở Miền Nam đó. Ðông đảo những thanh niên khác ở Miền Nam, có lẽ cũng ưu tú không thua gì các sinh viên du học, nhưng chấp nhận ở lại chiến đấu, và có thể đã bỏ mình để bảo vệ gia đình họ và gia đình các sinh viên du học. Những người này chắc có quyền đòi hỏi một cái nhìn công bằng hơn. Bởi vì nếu không có họ, các sinh viên du học và ông Kiểng không thành tài ở ngoại quốc, mà đã trở thành các cháu ngoan, cổ cò khăn đỏ của Bác Hồ, ngay từ những thập niên 1950-60. 

Ông Kiểng hạ nhục Miền Nam về chuyện "chiến hạm Pháp ". Nhưng Miền Bắc vinh dự gì hơn chăng, khi "cha già dân tộc" Hồ Chí Minh xuất thân là cán bộ CS quốc tế quèn, được Liên Sô sai làm phụ tá, thông ngôn, theo hầu cán bộ gộc Borodine tại Trung Hoả Phải nhận rằng các chính thể Bắc Việt, Nam Việt (cũng như Bắc Hàn, Nam Hàn) được hình thành ở thời cực điểm Chiến Tranh Lạnh, và không thể tránh khỏi sự chi phối nặng nề của 2 khối Cộng Sản và Tự Do (trong đó có Pháp, Mỹ). Ðiều quan trọng là những gì các chế độ đó làm sau nàỵ Danh xưng "Việt Nam Cộng Hòa" là tên gọi của cái thể chế có chính nghĩa ở Miền Nam, thể chế của quần chúng ở Miền Nam không chấp nhận Cộng Sản. Ðừng ngộ nhận đó là chế độ của cá nhân ông Diệm hay ông Thiệụ Về cách gọi là VNCH hay Cộng Hòa Việt Nam thì cũng chỉ là chi tiết vụn vặt, không dính dáng gì đến chuyện xấu tốt của một chế độ. Chẳng hạn như tên đặt cho cuốn sách là "Tổ Quốc Ăn Năn" của ông Kiểng bị nhiều người chỉ trích vì thiếu văn phạm, nhưng người viết bài này chỉ coi đó là tiểu tiết. Việc quan trọng là những gì ông Kiểng viết bên trong cuốn sách! 

Ông Kiểng chê các lãnh tụ Miền Nam yếu kém. Ðiều này có thể đúng, nhưng cũng không thể lấy đi cái chính nghĩa của chế độ đó. Không nên lẫn lộn cái bản chất, cái chính danh của một chế độ, với tư cách, hay cách hành xử trong một giai đoạn, của vài người cầm đầu chế độ đó. Ông Kiểng so sánh và cho rằng bản lĩnh của các lãnh tụ Miền Nam "không bằng một nửa của Hồ Chí Minh" và đàn em ông ta. Cần xác định xem đây nói về bản lĩnh của kẻ cướp hay của người lương thiện. Vì bản lĩnh của kẻ cướp thì quả thật nhiều người lương thiện không theo kịp. Ông Kiểng chỉ trích những lời nói của một số chóp bu Miền Nam, nhưng khi Hồ Chí Minh thú nhận mình "chẳng có tư tưởng gì, vì đã có Mao Chủ tịch suy nghĩ dùm", hay Tố Hữu "khóc ông Stalin", thì đáng kính trọng hơn chăng?

Ông Kiểng nói Miền Nam chưa hề đưa ra được một "ý niệm quốc gia sáng sủa". Thử hỏi một chủ đích chiến đấu có chính nghĩa, bằng mọi cách để khỏi bị chụp lên cổ cái ách toàn trị CS, chưa đủ rõ ràng là một ý niệm sáng sủa chăng? 

2) Về nguyên nhân thất bại của Miền Nam, dĩ nhiên không loại bỏ sự yếu kém của cấp lãnh đạo, nhưng yếu tố phản bội của Mỹ, phải khẳng định là có. Mùa Hè Ðỏ Lửa năm 1972, quân Miền Nam đã tự lực, xin nói rõ tự lực và không phải nhờ Mỹ, để đánh tan rã các sư đoàn Bắc Việt có thiết giáp yểm trợ vượt sông Bến Hải tràn qua vùng phi quân sự, đã tiêu diệt toàn bộ lực lượng CS xâm nhập ở Bình Long, An Lộc, và giữ vững được Miền Nam. Lực lượng CS năm 1972 lớn hơn rất nhiều lần khi tấn công Miền Nam 3 năm sau đó. Nhưng năm 1975, quân đội Miền Nam đã tan rã, mà không có một trận đánh lớn. Sự kiện này do nhiều nhân tố quan trọng mà trong đó không thể bỏ quaá: yếu tố tâm lý: bị đồng minh bỏ rơi , yếu tố vật chất: bị kiệt quệ phương tiện. Chỉ nêu vài thí dụ: người viết bài này từng ở trong binh chủng Không quân, biết rất rõ: trong những năm cuối cùng cuộc chiến, Mỹ giảm tiếp liệu, một nửa số máy bay phải nằm ụ vì không có xăng. Binh chủng bạn Pháo binh thiếu đạn dược bắn yểm trợ...

Cho nên, trong khi Khối Cộng không ngừng tăng viện cho Hà Nội, sự việc "đồng minh" Hoa Kỳ đã phản bội, đã "cắt cổ" Miền Nam, rõ ràng là sự thực, không phải tưởng tượng. Nếu ai còn thắc mắc điều này, có thể đọc cuốn "No more Vietnams" của cựu T.T. Richard Nixon , xác nhận sự phản bội, cúp giảm viện trợ đối với Miền Nam VN trong đoạn viết sau đây (trang 165): "Congress proceeded to snatch defeat from the jaws of victorỵ..It undercut South Vietnamõs ability to defend itself by drastically reducing our military aid...When the North Vietnamese Army poised to launch its final offensive, the South Vietnamese Army was in its weakest condition in over five years, reeling from the effects of congressional budget cuts that had strapped it with its severe fuel and ammunition shortages". ( tạm phỏng dịchá: ..."Quốc Hội (Mỹ) đã biến thắng lợi thành thảm bạị..Sự cắt giảm viện trợ quân sự làm tiêu tan khả năng tự vệ của Miền Nam . Quân Bắc Việt sửa soạn trận tấn công chót đúng vào lúc quân Miền Nam đang ở vào vị thế suy yếu nhất chưa hề có trong năm năm cuối cùng cuộc chiến: họ bị trói tay vì không đủ xăng dầu, đạn dược, do việc Quốc hội bác bỏ các ngân khoản viện trợ ".) 

Ðể kết luận, quan điểm của ông Kiểng đã không đứng vững với những nhận định nhự.. "lý do căn bản về cái chết của VNCH là vì chưa bao giờ nó là một quốc gia"... Thực tế là trái lại, Miền Nam đã đứng vững trong hai thập niên như một "thực thể" (entité) , có một "tính danh" (identité) như một quốc gia (với danh xưng VNCH hay tên gọi gì khác, không quan trọng). Người viết bài xin trích ngay một câu ông Kiểng viết, để định nghĩa quốc gia này: đó là quốc gia "của những người chân chính, lương thiện, quyết tâm muốn "duy trì "(không phải muốn "dựa" vào, như ông Kiểng viết) một chế độ VNCH để ngăn chặn CS và xây dựng một Việt Nam dân chủ ". Nó không thành công là chuyện khác. Nhưng thực tế nó là một quốc gia đã hiện hữu trong một giai đoạn lịch sử.

Ngày nay, mặc dầu không còn ở quốc nội, cái "áthực thể" cũng như cái "tính danh" của nó, vẫn còn tiếp tục tồn tại, hiện hữu, trong Cộng Ðồng Người Việt hải ngoại. Ðiều này giải thích vì sao ba chục năm sau, lá cờ đỏ máu của chế độ Hà Nội vẫn không xâm nhập được vào Cộng Ðồng, điển hình là vụ Trần Trường ở Nam Cali, và gần đây nhất, là việc tiểu bang Virginia Hoa Kỳ phải chấp nhận lá cờ vàng ba sọc tại các trường học. 

Thụy Sĩ tháng 3-2003
Nguyễn Gia Tiến 
(Trích Con ong 10/3/03 – Internet)
 

Trang Bìa 
Ðầu trang