Phong
trần đa sự
1. Tội ác và
bí ẩn về cái chết của Stalin.
MOSCOW - Năm mươi
năm trước đây, ngày mồng
Năm tháng Ba năm 1953, Joseph Stalin qua đời.
Là một nhà độc tài quyết
định vận mạng của hàng triệu
ngườiá dân Liên Xô, ông
Stalin khi còn sống đã trở
thành biểu tượng của sự
tàn bạo và thời kỳ ông
cầm quyền là giai đạon đen
tối nhất trong lịch sử nước
Nga và Ðông Âu ở thế
kỷ 20. Bản thân Stalin đã ra lệnh
giết rất nhiều người nhưng
cái chết của ông cho đến nay
vẫn còn là điều bí ẩn.
Tuy vậy, các nghiên cứu lịch sử
gần đây có vẻ như cho rằng
chính Stalin đã bị ám sát.
Các tài liệu lịch sử của
Liên Xô đều thống nhất ở
những điểm chính về những
ngày cuối cùng của Stalin, chẳng
hạn như những ai ở gần ông
ta nhất trong thời gian đó và
họ làm gì cùng Stalin.
Trong đêm ngày
28 tháng Hai năm 1953, Stalin xem phim ở điện
Kremlin cùng nhóm thân cận nhất trong
bộ Chính trị trung ương đảng
Cộng sản Liên Xô là Lavrenty Beria,
Nikita Khrushchev, Nicolai Bulganin và Georgi Malenkov. Sau khi
xem phim họ về dinh tư ở ngoại ô
Matxcova của Stalin và đến chừng
1 giờ sáng ngày Một tháng Ba,
các vị khách về nhà của họ.
Nhưng những gì xảy ra sau đó
đã gây ra câu hỏi. Ðó
là chuyện Stalin ra lệnh cho các cận
vệ riêng đi ngủ. Việc này rất
bất thường và nó đã
khiến sử gia người Nga Edvard Radzinski
để tâm tìm hiểu. Ông Radzinski
đã tìm lại chính một trong những
vệ sĩ của Stalin làm việc đêm
hôm đó là Pyotr Lozgachev. theo lời
ông Lozgachev thì không phải Stalin mà
người trưởng nhóm vệ
sĩ Khrustalev đã bảo cấp dưới
về nghỉ đêm đó. Sáng
hôm sau, khi tỉnh đậy họ đợi
tới 12 giờ trua, rồi 2 giờ
chiều vẫn không thấy Stalin ra khỏi
phòng. Những người cận vệ
tuy lo sợ nhưng không dám vào phòng
đánh thức Stalin đậy. Ðến
6.30 tối, có ai đó bật đèn
trong phòng Stalin. Những người
cận vệ thấy an tâm hơn và yên
trí rằng Stalin đã đậỵ
Ông ta vốn có thói quen làm việc
đêm và đậy rất muộn. Nhưng
đến 10 giờ đêm vẫn không
thấy Stalin ra khỏi phòng. Lozgachev quyết
định đến đập của và
hỏi" "Ðồng chí Stalin ơi, đồng
chí có khoẻ không? Không nghe tiếng
trả lời, Lozgachev đẩy cửa
vào thì thấy Stalin nằm vật vã
trên nền nhà, hơi thở phì
phò, nặng nhọc, tờ báo Pravda
rơi bên cạnh. Ðồng hồ trên
tay Stalin chỉ 6 giờ 30. Theo Lozgachev thì
đó là giờ phút có
điều gì đó xảy ra. Ðiều
lạ tiếp theo là sau khi những người
cận vệ gởi điện báo cho Bộ
Chính trị thì họ phải đợi
rất lâu mới có người
đến khám cho Stalin. Ðến ngày
mồng Năm thì Stalin qua đời.
Theo sử gia Edvard Radzinski thì theo lệnh của
trùm công an KGB Lavrenty Beria, chính đội
trưởng cận vệ Khrustalev đã
tiêm thuốc độc vào người
Stalin.
Nhưng câu hỏi
là tại sao nhóm người thân
cận nhất của Stalin phải giết ông
ta? Theo sử gia Radzinski thì vào thời
điểm đó, Stalin đã quyết
định gây chiến với Mỹ,
làm nổ ra thế chiến lần thứ
Ba để đem toàn bộ châu Âu
về tay Matxcova. Những người thân
cận với ông ta thì biết rằng
nền kinh tế Xô Viết đã hoàn
toàn kiệt quệ sau thế chiến thứ
Hai, quân đội Liên Xô cũng chưa
kịp phục hồi và việc đương
đầu với một cường
quốc đã có vũ khí hạt
nhân như Mỹ là chuyện điên
rồ. Nhóm Beria, Malenkov và Khrushchev muốn
ngăn chặn điều này. Stalin muốn
khiêu khích Tây phương bàng một
chiến dịch tiêu diệt người
Do Thái. Chính Beria biết được
rằng Stalin đã ra lệnh thực hiện
việc bắt hàng loạt người
Nga gốc Do thái ở toàn thành
phố Matxcova vào ngày mồng Năm tháng
Ba. Có những người nói
là họ đã thấy các xe khách
được điều đến thủ
đô để chậu bị đưa
người Do thái đi đàỵ
tại Kazachstan người ta đã đụng
những khu lều trại sẵn sàng đón
họ.
Sau cái chết của
Stalin, Liên Xô bước vào thời
đại tan bang, từ các trại tập
trung khắp vùng Siberia, những cựu
sĩ quan Hồng Quân, các đảng
viên cộng sản và vô số người
khác được thả về, trong
số họ có cả con dâu và cháu
gái Stalin, những người bị
Stalin cho đi tù. Hàng triệu người
dân các dân tộc thiểu số bị
Stalin bắt đi đày cũng dần
được cho về quê quán.
Tại đại hội
20 đảng Cộng sản Liên Xô, bản
báo cáo của Nikita Khrushchev về các
tội ác của Stalin đã gây chấn
động trong phe cộng sản. Quá trình
sựa sai diễn ra ở nhiều nước
cộng sản, với mức độ
tùy theo nhận thức của giới
lãnh đạo các nước đó.
Tuy vậy, vẫn có những quốc gia
tiếp tục coi Stalin là thần tượng
hoặc một đề tài cấm kỷ
không được nói đến.
tại những nước này những
bí ẩn quanh cái chết của Stalin vẫn
là một điều ít người
được biết đến. Trong khi
Liên xô, và Ðông Âu cái
nôi của CS đã treo cổ tượng
Satin thì CSVN, trùm VC Tố Hữu ca ngợi
Stalin với những câu u tối bịp
bợm như sau: Ông Stalin ơi! Ông Stalin
ơi!
Hỡi ôi
Ông mất! Ðất trời có
không?
Thương cha thương
mẹ thương chồng
Thương mình
thương một thương Ông thương
mười
....
Con còn bé
dại con ơi
Mai sau con nhé trọn
đời nhớ Ông
Thương Ông
mẹ nguyện trong lòng
Yêu làng yêu
nước yêu chồng yêu con
Ông dù đã
khuất không còn
Chân Ông còn
mãi dấu son trên đường
(BBC 5/3/03 -Trích internet)
2. Ai phản bội
ai?
Một số nhân
vật Việt Mỹ đã hội thảo
tại Paris trong tháng 1.2003 vừa qua để
kỷ niệm 30 năm ngày ký Hiệp Ðịnh
Ba Lê 1973. Nhân dịp này nguyệt san
Thông Luận tháng 2.2003 đã đăng
bài viết của tác giả Nguyễn
Gia Kiểng dưới tiêu đề
"Ai phản bội aỉ". Trong bài viết, ông
Kiểng đã đưa ra một số
nhận định như sau: (nguyên văn bài
trên website Thông Luận www.thongluan.org)
- Lý do căn bản
nhất về cái chết củaViệt Nam
Cộng Hòa là vì "chưa hề bao giờ
nó là một quốc gia", và đã
được khai sinh một cách vô
ý thức trên một chiến hạm
Pháp, đậu ngoài khơi Vịnh Hạ
Long.
- Theo ông Kiểng,
ngay cái quốc hiệu VNCH cũng sai văn
phạm (thay vì phải gọi là Cộng
Hòa VN). Miền Nam chưa bao giờ có
một ý niệm quốc gia sáng sủa
để người dân gắn bó
với chế độ.
- Cấp lãnh đạo
của VNCH với khẩu khí, tư cách,
tầm thường yếu kém, không
có được "ùmột nửa
" bản lãnh của Hồ Chí Minh và
đàn em ông ta.
- Mỹ không hề
phản bội VNCH vì Hoa Kỳ chưa bao giờ
giúp quốc gia nào nhiều như giúp
VNCH...
Người viết
bài này có vài ý kiến sau
đây về các nhận định
trên của ông Nguyễn Gia Kiểng.
Ðiều có
thể khẳng định ngay, xuyên suốt
trong chiến tranh, và càng rõ hơn
ở thời điểm ngày hôm
nay, là: trong cuộc chiến Quốc Cộng
vừa qua, Miền Nam đã có chính
nghĩa hơn, vì chỉ chiến đấu
tự vệ, chống trả lại ý đồ
của Miền Bắc muốn áp đặt
một thể chế mà mọi người
đã rõù: toàn trị và
man rợ. Nhất là trận chiến này
đã diễn ra trong bối cảnh, không
phải là để giành độc
lập thống nhất như Hà Nội thường
rêu rao, mà là trong kế hoạch toàn
cầu của một khối CS quốc tế
hung hãn (trong đó có Bắc Việt)
muốn dùng vũ lực áp đặt
khắp nơi chủ nghĩa Cộng Sản.
Nhận định này
không phải là chủ quan của người
Miền Nam, mà ngay cả những người
CS như Dương Thu Hương ngày nay cũng
đã xác nhận, là Miền Nam có
mô hình "văn minh" hơn (nguyên văn)
và Miền Bắc mới là "man rợ".
Còn chuyện hai Miền Nam Bắc đều
bị hai khối CS và Tư Bản (Mỹ)
xía vào, chi phối cuộc chiến, không
thể làm mất đi cái bản chất
chính nghĩa của Miền Nam.
Sau khi đã xác
nhận và chấp nhận thực tế
đó, nghĩa là chính nghĩa thuộc
về Miền Nam, thì mọi chuyện còn
lại chỉ là phụ thuộc. Chẳng hạn
như:
1) Ông Kiểng nói
"VNCH chưa bao giờ là một quốc
gia, và được thành lập trên
một chiến hạm Pháp"...Thế nào
là một "Quốc gia"? Một miền đất
với mấy chục triệu dân, đa
số không chấp nhận CS, có một
tập thể Quân đội chiến đấu,
đổ nhiều xương máu vì một
chính nghĩa trong hai chục năm, giữ
cho CS khỏi xâm nhập, chưa đủ là
một quốc gia saỏ Hơn nữa, tại
Hội nghị Genève 1954, đã có
5 cường quốc họp để xác
nhận có 2 quốc gia riêng biệt tại
hai bờ vĩ tuyến 17. Và nhờ
vậy, ông Kiểng cùng một số đông
sinh viên khác đã được
du học ngoại quốc với đầy
đủ quyền lợi, do mang chiếu khán
của cái quốc
gia ở Miền Nam đó. Ðông
đảo những thanh niên khác ở
Miền Nam, có lẽ cũng ưu tú
không thua gì các sinh viên du học,
nhưng chấp nhận ở lại chiến
đấu, và có thể đã
bỏ mình để bảo vệ gia đình
họ và gia đình các sinh viên
du học. Những người này chắc
có quyền đòi hỏi một cái
nhìn công bằng hơn. Bởi vì
nếu không có họ, các sinh viên
du học và ông Kiểng không thành
tài ở ngoại quốc, mà đã
trở thành các cháu ngoan, cổ
cò khăn đỏ của Bác Hồ,
ngay từ những thập niên 1950-60.
Ông Kiểng hạ
nhục Miền Nam về chuyện "chiến hạm
Pháp ". Nhưng Miền Bắc vinh dự
gì hơn chăng, khi "cha già dân tộc"
Hồ Chí Minh xuất thân là cán
bộ CS quốc tế quèn, được
Liên Sô sai làm phụ tá, thông
ngôn, theo hầu cán bộ gộc Borodine tại
Trung Hoả Phải nhận rằng các chính
thể Bắc Việt, Nam Việt (cũng như
Bắc Hàn, Nam Hàn) được
hình thành ở thời cực
điểm Chiến Tranh Lạnh, và không
thể tránh khỏi sự chi phối nặng
nề của 2 khối Cộng Sản và Tự
Do (trong đó có Pháp, Mỹ). Ðiều
quan trọng là những gì các chế
độ đó làm sau nàỵ Danh
xưng "Việt Nam Cộng Hòa" là tên
gọi của cái thể chế có chính
nghĩa ở Miền Nam, thể chế của
quần chúng ở Miền Nam không
chấp nhận Cộng Sản. Ðừng
ngộ nhận đó là chế độ
của cá nhân ông Diệm hay ông
Thiệụ Về cách gọi là VNCH hay
Cộng Hòa Việt Nam thì cũng chỉ
là chi tiết vụn vặt, không dính
dáng gì đến chuyện xấu tốt
của một chế độ. Chẳng hạn
như tên đặt cho cuốn sách là
"Tổ Quốc Ăn Năn" của ông Kiểng
bị nhiều người chỉ trích
vì thiếu văn phạm, nhưng người
viết bài này chỉ coi đó là
tiểu tiết. Việc quan trọng là những
gì ông Kiểng viết bên trong cuốn
sách!
Ông Kiểng chê
các lãnh tụ Miền Nam yếu kém.
Ðiều này có thể đúng,
nhưng cũng không thể lấy đi cái
chính nghĩa của chế độ đó.
Không nên lẫn lộn cái bản chất,
cái chính danh của một chế độ,
với tư cách, hay cách hành xử
trong một giai đoạn, của vài người
cầm đầu chế độ đó.
Ông Kiểng so sánh và cho rằng bản
lĩnh của các lãnh tụ Miền Nam
"không bằng một nửa của Hồ
Chí Minh" và đàn em ông ta. Cần
xác định xem đây nói về
bản lĩnh của kẻ cướp hay
của người lương thiện. Vì
bản lĩnh của kẻ cướp thì
quả thật nhiều người lương
thiện không theo kịp. Ông Kiểng chỉ
trích những lời nói của
một số chóp bu Miền Nam, nhưng khi Hồ
Chí Minh thú nhận mình "chẳng có
tư tưởng gì, vì đã
có Mao Chủ tịch suy nghĩ dùm", hay
Tố Hữu "khóc ông Stalin", thì
đáng kính trọng hơn chăng?
Ông Kiểng nói
Miền Nam chưa hề đưa ra được
một "ý niệm quốc gia sáng sủa".
Thử hỏi một chủ đích chiến
đấu có chính nghĩa, bằng mọi
cách để khỏi bị chụp lên
cổ cái ách toàn trị CS, chưa
đủ rõ ràng là một ý
niệm sáng sủa chăng?
2) Về nguyên nhân
thất bại của Miền Nam, dĩ nhiên
không loại bỏ sự yếu kém
của cấp lãnh đạo, nhưng yếu
tố phản bội của Mỹ, phải khẳng
định là có. Mùa Hè Ðỏ
Lửa năm 1972, quân Miền Nam đã
tự lực, xin nói rõ tự
lực và không phải nhờ Mỹ,
để đánh tan rã các sư
đoàn Bắc Việt có thiết giáp
yểm trợ vượt sông Bến
Hải tràn qua vùng phi quân sự,
đã tiêu diệt toàn bộ lực
lượng CS xâm nhập ở Bình
Long, An Lộc, và giữ vững được
Miền Nam. Lực lượng CS năm 1972
lớn hơn rất nhiều lần khi tấn
công Miền Nam 3 năm sau đó. Nhưng
năm 1975, quân đội Miền Nam đã
tan rã, mà không có một trận
đánh lớn. Sự kiện này
do nhiều nhân tố quan trọng mà trong
đó không thể bỏ quaá: yếu
tố tâm lý: bị đồng minh bỏ
rơi , yếu tố vật chất: bị kiệt
quệ phương tiện. Chỉ nêu vài
thí dụ: người viết bài
này từng ở trong binh chủng Không
quân, biết rất rõ: trong những
năm cuối cùng cuộc chiến, Mỹ
giảm tiếp liệu, một nửa số
máy bay phải nằm ụ vì không
có xăng. Binh chủng bạn Pháo binh thiếu
đạn dược bắn yểm trợ...
Cho nên, trong khi Khối
Cộng không ngừng tăng viện cho Hà
Nội, sự việc "đồng minh" Hoa Kỳ
đã phản bội, đã "cắt
cổ" Miền Nam, rõ ràng là sự
thực, không phải tưởng tượng.
Nếu ai còn thắc mắc điều
này, có thể đọc cuốn "No more
Vietnams" của cựu T.T. Richard Nixon , xác nhận
sự phản bội, cúp giảm viện
trợ đối với Miền Nam VN
trong đoạn viết sau đây (trang 165):
"Congress proceeded to snatch defeat from the jaws of victorỵ..It
undercut South Vietnamõs ability to defend itself by drastically
reducing our military aid...When the North Vietnamese Army poised to launch
its final offensive, the South Vietnamese Army was in its weakest condition
in over five years, reeling from the effects of congressional budget cuts
that had strapped it with its severe fuel and ammunition shortages". (
tạm phỏng dịchá: ..."Quốc Hội
(Mỹ) đã biến thắng lợi
thành thảm bạị..Sự cắt giảm
viện trợ quân sự làm tiêu
tan khả năng tự vệ của Miền
Nam . Quân Bắc Việt sửa soạn trận
tấn công chót đúng vào lúc
quân Miền Nam đang ở vào vị
thế suy yếu nhất chưa hề có
trong năm năm cuối cùng cuộc chiến:
họ bị trói tay vì không đủ
xăng dầu, đạn dược, do việc
Quốc hội bác bỏ các ngân khoản
viện trợ ".)
Ðể kết luận,
quan điểm của ông Kiểng đã
không đứng vững với
những nhận định nhự.. "lý
do căn bản về cái chết của
VNCH là vì chưa bao giờ nó là
một quốc gia"... Thực tế là trái
lại, Miền Nam đã đứng
vững trong hai thập niên như một "thực
thể" (entité) , có một "tính danh"
(identité) như một quốc gia (với
danh xưng VNCH hay tên gọi gì khác, không
quan trọng). Người viết bài xin
trích ngay một câu ông Kiểng viết,
để định nghĩa quốc gia này:
đó là quốc gia "của những
người chân chính, lương thiện,
quyết tâm muốn "duy trì "(không phải
muốn "dựa" vào, như ông Kiểng
viết) một chế độ VNCH để
ngăn chặn CS và xây dựng một
Việt Nam dân chủ ". Nó không thành
công là chuyện khác. Nhưng thực
tế nó là một quốc gia đã
hiện hữu trong một giai đoạn lịch
sử.
Ngày nay, mặc dầu
không còn ở quốc nội, cái
"áthực thể" cũng như cái
"tính danh" của nó, vẫn còn tiếp
tục tồn tại, hiện hữu, trong Cộng
Ðồng Người Việt hải ngoại.
Ðiều này giải thích vì sao
ba chục năm sau, lá cờ đỏ
máu của chế độ Hà Nội
vẫn không xâm nhập được
vào Cộng Ðồng, điển hình
là vụ Trần Trường ở
Nam Cali, và gần đây nhất, là
việc tiểu bang Virginia Hoa Kỳ phải chấp
nhận lá cờ vàng ba sọc tại
các trường học.
Thụy Sĩ tháng
3-2003
Nguyễn Gia Tiến
(Trích Con ong 10/3/03
– Internet)
|