Xuân
về lại nhớ những Tết tha
hương của Lính
Hồ Ðinh
TÐ1/ TrÐ 43 /SÐ 18 BB –
Kbc 4424
Chợt nhớ
xuân nào trên chiến địa,
Tao mày hiu hắt đón
xuân chơi
Một thằng lính bộ
đời như bỏ
Một đứa nhảy
dù cũng tả tơi..
Bốn câu thơ cũ mới
đó mà đã mấy mươi
mùa thương nhớ,càng khiến
cho người lính già thêm trơ
trọi , lạc lõng giữa tối ba mươi
lạnh lẽo nơi chón quê người..
Trong quán khách bên đường,
ta một mình sóng đôi bên ngọn
đèn hiu hắt, qua đêm lại một
năm buồn. Rượu chưa nhắp mà
môi dã muốn cay sè, ngoài trời
con chim kỹ niệm vẫn như thiết tha giục
giã dù khói lửa đã ngưng
trên chiến địa, bạn bè cũng
không còn quan hà cạn chén ly bôi
, sau những tiếng tỳ bà nhặt
khoan nức nỡ. Tan tác, chia xa,giờ
đây chúng ta đang lang thang như mây
chiều, sau những năm tháng đã
giốc ngược đời mình
cho quê hương. Lính là thế đó,
buồn nhiều vui ít,với một chút
nhun nhén tình cờ bắt gặp, trên
các nẽo đường hành quân
vô định, qua dăm ba ngày Tết
dưỡng quân hay canh giặc chốn tiền
đồn, lẽ loi ngoài quan tái. Ai đã
từng là lính, mới cãm
thông cho lính, sống thật cô đơn
lếch thếch và chết cũng rất
hiu hắt ngậm ngùi. Thời gian và
không gian đời lính cũng chẳng
qua chỉ là một cái mốc vô tình
để biết ta hiện hửu. Nhưng
thôi tiếc làm gì ai biểu ta sinh ra
làm trai hùng đất Việt ? nên
phải chấp nhận kiếp lính "ôm
yên gối trống đã chồn, nằm
vùng cát trắng ngủ cồn rêu
xanh" để rồi thui thủi "đêm
từng đêm ngó mông lung, vỗ
bờ kiếm thép hát rừng
mà nghe"..
Mười ba năm lính,
tết nào cũng tết tha hương,
xuân nào cũng xuân lữ thứ.
Ðêm trừ tịch giữa tối
ba mươi, cái khoảnh khắc năm củ
sắp tàn, khi mà mọi nhà chặt
then kín cửa, để sửa soạn
đón giao thừa, trong niềm hạnh
phúc của gia đình, thì lính
cũng đón chào năm mới
trong chiếc hầm trốn đạn hay mái
chòi canh giặc đen tối lạnh lùng.
Nhớ từ đâu bổng kéo
tới, vây kín cái không gian
nhỏ hẹp này. Ngoài trời mưa
xuân đến sớm nhưng sao buốt
lạnh quá chừng,khiến cho ta thêm
buồn rầu trong bóng tối một tết
tha hương. Dường như có ai đang
hát ru một khúc tình ca của lính,
nhắp một chút men nồng để thấy
lại ngày xưa, để ta dìu ta trở
về những mùa xuân củ, những
tết không bao giờ quên được
trong cuộc đời .
1- TẾT LÍNH ÐẦU
TIÊN VỚI NGƯỜI KOHO TRÊN
RỪNG NÚI MIỀN TÂY BẮC BÌNH
THUẬN:
Ma Lâm xưa nay vẫn là
cửa ngỏ để nhập vào vùng
tây bắc Bình thuận hùng vĩ và
đầy huyền thoại. Ma Lâm là
thủ phủ của quận Thiện Giáo, nằm
giữa châu thổ phì nhiêu của
con sông Cả (Quao), phát nguyên tại
Di Linh và ra biển Ðông tại cửa
Phú Hài, có quốc lộ 12 hay còn
gọi là Liên tỉnh lộ 8 , hoàn thành
ngày 1-10-1914, từ Phan Thiết đi Di
Linh chạy ngang qua. Ðây là biên địa
cuói cùng của Vương quốc Chiêm
Thành trước khi mất nước
vào năm 1693, nên có nhiều người
Chàm và Thượng Ba Phủ, sống
tại các xã Ma Lâm Chàm, Phú
Nhiêu,Sông Trao, Trịnh Hòa, Tịnh Mỹ.
Nhiều địa danh như Rừng Ðú,
Mang Tố, Làng Chão, Vũng Dao..và
các câu chuyện xưa về người
Chàm, trên mãnh đất Bình Thuận,
theo thời gian tan biến vào cát bụi
nhưng vẫn còn là huyền thoại
của một thời vang bóng. Cũng
vì địa thế hiểm trở, chinh
chiến triền miền nên quốc lộ
gần như bị bỏ hoang, cũng như hầu
hết miền tây bắc bi quên lãng,
để mặc cho người Thượng
tha hồ đốt rừng bừa bải
làm rẫy, dù vùng này nếu
ruộng đất được khai thác,
cũng đủ cung ứng nhu cầu lúa
gạo cho nhiều người trong tỉnh.
Cuối năm 1963, chúng tôi
gồm mười lăm đứa
mãn khóa, từ Sài Gòn bổ
sung cho Trung Ðoàn 43 biệt lập, lúc
đó do Thiếu Tá Nguyễn văn
Cảnh làm Trung Ðoàn Trưởng,kiêm
Biệt Khu Trương Biệt Khu Bình Lâm,
trách nhiệm ba tỉnh Bình Tuy-Bình Thuận-Lâm
Ðồng. BCH biệt khu đóng tại quân
Di Linh với DD trọng pháo và Tiểu
đoàn 3/43, còn TD 1 và 2/43 thì hành
quân thường trực tại Bình
Tuy-Phan Thiết.
Ngày đầu tiên về
đơn vị cũng là ngày cuối
năm, nên khi xe lủa tới Ðà
Lạt, cũng là lúc thiên hạ đang
rộn rịp đón giao thừa. Cao nguyên
Lâm Viên mùa Tết, nên trời
rét căm căm. Chúng tôi tát
cả là dân miền biển và miền
nam,nên chịu không thấu với
cái lạnh miền núi,cát da tím
thịt, trong bộ đồ trận mõng manh,
qua đêm đầu tiên tại nhà
vãng lai của Tiểu Khu Tuyên Ðức.
Viết sao cho hết nổi buồn rầu của
bọn lính xa nhà trong đêm Tết
? dù đêm Xuân Ðà Lạt
thật tuyệt vời, khiến ta cứ
ngở như mình đang lạc lối
đào nguyên, giữa hoa và người
đẹp, cả hai sắc hương đường
như cùng với mây trời ngạt
ngào trong sương giá. Ðà Lạt
đêm xuân thú vui không kể xiết,
khắp phường phố thiên hạ
quần áo là lượt hạnh phúc,
gắn bó từng cặp, từng đôi
trong muôn màu đam mê rực rỡ
nhưng với bọn lính mới đầu
đời, Ðà Lạt lại vô
tình hờ hửng. Bởi vậy
cả bọn đều mong mau sáng, để
sớm trả lại cái thiên đường
hạnh phúc mà trời trót dành
cho những giai nhân tài tử. Rồi
thì chia tay, dăm đứa gọi là
kém may mắn khi về TD 3/43 gần mặt
trời. số còn lại bổ sung cho
TD 1 và 2/43. Một cuộc hành quân mở
ra vào ngày mùng ba tết nguyên đán,
mục đich khai thông quốc lộ 12, đưa
lính mới và quân trang quân
dụng bổ sung cho hai đơn vị tại
Bình Thuận. Nhờ vậy mới
có dịp hưởng được
một cái tết núi rừng vui nhộn
với người Koho, quanh bếp lửa
hồng. Bộ tộc Koho sống đông đảo
tại cao nguyên nam Trung Phần, có nguồn
gốc pha trộn từ nhiều sắc dân
Chàm, Mã Lai, Chà Và, Chân Lạp..gồm
các bộ lạc Churu, Noang, Sre, Maa, Sil, Toa, Queyong,
Lat, Nop, Kodiong, Nam… chủ yếu sống tại các
tỉnh Quảng Ðức,Tuyên Ðức,
Lâm Ðồng, Bình Thuận, Bình Tuy
và Long Khánh. Ðược vui Tết
với người Koho là một thích
thú tột cùng, vì ngoài việc
được ăn uống tự do, còn
hưởng được tình người
qua cử chỉ, một hành động
đối với người Việt
trong thời chinh chiến, hầu như đã
mất mát hay nếu còn cũng chẳng
qua sự giả tạo, lớp phấn
hào nhoáng bên ngoài.
Vì lộ trình bị bỏ
hoang lâu ngày, không được
sửa chữa và xử dụng
nên khắp nơi đầy ổ voi ổ
gà. Thêm vào đó là nhiều
đèo cao với vô số khúc
quanh co lên trời, xuóng lủng, do đó
đoàn xe di chuyển rất chậm vì
phải mở đường và
tu bổ quan lộ, nên đêm đó
phải đóng quân và cũng là
dịp ngàn năm một thuở được
chủ làng trong buôn Koho, tại thung lũng
Klonodium sát quốc lộ mời ăn
Tết. Lễ hội theo truyền thống được
tổ chức giữa sân nhà Hội
Ðồng. Tất cả đều là
sự quyên góp chung từ củi
đốt, trâu bò tới rượu
cần. Quang cảnh đêm Tết thật
hấp dẫn với đống củi
cao như núi đủ rực sáng suốt
đêm, mấy trăm hủ rượu
cần và ba con trâu cột sẳn quanh các
hàng cộc được chạm trổ.
Khắp nơi còn có những cây
phướng, nêu và cờ xí
càng tăng thêm nét đẹp và
trang nghiêm trong ngày Tết. Rồi lúc
ráng chiều vừa khuất sau rặng
Núi Ông cao đen thăm thẳm đầy
huyền bí, cũng là lúc chiêng
trống nơi nhà Hội Ðồng trổi
dậy, thúc dục dồn dập như tiếng
trống trận xua quân, kêu gọi mọi
người trong Buôn tề tựu nời
bếp lửa hồng vừa cất cao
ngọn. Tiếng lửa lách tách nổ
vui tai, cộng với tiếng người
chuyện trò huyên náo. Nam nữ,
già trẻ vui Tết ăn mặc quần
áo đẹp và mới nhất của
họ, dù chỉ là thứ vải bâu
thô thiển. Ở đây hoa nhiều
không đếm hết nhưng cũng không
có hoa gì đẹp hơn hoa mai làm
đêm thêm ngát, làm cho lính
đã ngây ngất bên ché rượu
cần, lại càng ngẩn ngơ hóa bướm
vì tiếng hát ngây thơ hồn nhiên
của các cô gái vùng cao, khiến
cho mấy chục năm qua rồi, mà trong
hồn mỗi lần chợt nhớ,
như muốn khựng vì mùi chua của
rượu cần và muì hương
của núi rừng tây bắc. Sáng
tới lính lại lên đường,
không được như người
Koho, sung sướng tiếp tục cuộc vui
Tết quanh các gia đình, cho đến
hết tháng giêng mới chấm dứt
khi cả Buôn không còn rượu
và thịt.:
"Ớ chàng trai
lính ơi,
đừng quên đêm
nay bên vũ điệu Lam Tơi,
đôi ta tình cờ
quen nhau ngắn ngũi,
nhưng em nguyện chờ
chàng trở về ..."
2- NHỮNG NGÀY TIỀN
ÐỒN VUI TẾT NEN BƯƠN TIÊN VỚI
NGƯỜI THÁI Ở TÙNG NGHĨA,
TUYÊN ÐỨC:
Sau hiệp định Genève
1954 chia đôi đất nước
, một số người Thái sinh sống
tại tỉnh Lai Châu đã từ
bỏ thiên đàng xã nghĩa Việt
Cộng, di cư vào Nam để tìm tự
do và lập nghiệp tại Xã Tùng
Nghĩa,quận Ðức Trọng, tỉnh
Tuyên Ðức, gần phi trường
Liên Khương, ngả ba Di Linh-Ðà
Lạt-Ðơn Dương.
Thời tiền chiến,
Hoàng Ly đã viết bộ tiểu thuyết
trường thiên dã sử nổi
tiếng "Lửa hận rừng xanh", hư
cấu cuộc đời của Tù trường
Ðèo văn Lang, vua của người
Thái đen Thái trắng, miền tây
bắc Lai Châu rộng lớn , từ
Phong Thồ, Nậm Nà, tới Mường
Lay, Mường Tè, Bản Pháp.. xứ
sở của hoa ban, loài hoa trắng mọc
chênh vênh ven vách núi, mùa xuân
nở trắng núi đồi xứ
Thái.
"Ðón giao thừa
một phiên gác đêm
chào xuân đến
súng xa vang rền
Xác hoa tàn rơi trên
bán súng..
ngở pháo tung bay, ngở
tóc em vương…"
bài hát cũ của nhạc
sỹ Nguyễn văn Ðông, mấy chục
năm về trước , nay sao vẫn nhớ
như niềm nhớ về một cái
tết xa xưa rất tình cờ với
đồng bào Thái Trắng, khi tiểu
đoàn nằm tiền đồn, giữ
an ninh ngoài vòng đai Tùng Nghĩa.
Theo phong tục cổ truyền, hầu như tất
cả các dân tộc thiểu số vùng
thượng, trung Bắc Việt cũng như
cao nguyên Trung Phần, hằng năm đều
có nhiều lễ hội. Người
Thái cũng vậy nhưng quan trọng hơn
hết đối với họ vẫn là
Tết Nguyên Ðán NEN BƯƠNG TIÊN,
thường được tổ chức
tiếp theo Lệ ăn cơm mới và
uống rượu Kim Lao Mao, mừng trúng
mùa, cũng như ngày Tết Thần
Táo vào tối đêm 23 tháng
chạp, cũng giống như người
Việt, rất trọng thể khắp mọi nhà,
mọi đình làng với lễ
vật gồm gà, xôi, rượu, vàng
giấy và hoa quả.
Người Thái sống
lâu năm trên đất Việt nên
Tết Nguyên Ðán gần giống
người Kinh, nhất là từ
khi họ di cư vào miền Nam. Ðêm
giao thừa, mọi người đều
ăn mặc quần áo mới. Sặc
sở và diêm dúa nhất vẫn
là các cô gái chưa chồng, trong
lễ hội "Tung Cầu" với thanh niển
chưa vợ, để rồi sau đó
từng cắp sóng sánh cười
vui, qua cuộc tình đầu xuân vừa
chớm nở.
"Chốn biên thuỳ này
xuân tới chi, tình lính chiến
khác chi bao người"., nên đêm
tiền đồn được vui ké
với bản làng một cái tết
vui nhộn từ đầu thôn tới
cuối ấp, nơi nào cũng vang vang tiếng
pháo, khiến người lính trẻ
xa nhà chạnh lòng để rơi nước
mắt, khi nhớ về những ngày
xuân củ, nhớ màu hoa cúc hoa
mai, tết đến nở tròn như
mắt môi em một thời tuổi học
" tay anh ghì nhẹ trên bán súng, cứ
ngở cùng em sóng bước xuân".
3- ÐÊM CHỜ TÊT
NGOÀI VÒNG ÐAI ÁP CÂY BÀI
(CỦ CHI):
Cuối năm 1964, toàn bộ
Trung Ðoàn 43 biệt lập từ Di Linh,
tăng phái hành quân cho khu 32 chiến
thuật, trách nhiệm tỉnh Hậu Nghĩa
nhưng chủ yếu là tại quận Củ
Chi, khắp các xã Bình Mỹ, Tân
Thạnh, Trung An, Phú Hòa Ðông, Phước
Vĩnh An, Tân Phú Trung, Tân Thông,
Nhuận Ðức, Trung Lập, Phước
Hiệp, Thái Mỹ, An Nhơn Tây, Phú
Mỹ Hưng và huyện lỵ Tân An Hội.
Lúc đó, BCH Trung đoàn đóng
tại Tân Thông, các tiểu đoàn
2 và 3/43 nằm tiền đồn khắp
các xã xôi đậu, chỉ riêng
TD 1/43 được dưỡng quân
ba ngày Tết tại Quận, vì đã
lội suốt một năm, khắp các chiến
trường Phan Thiết, Bình Tuy, Long Khánh,
Bình Dương, Bình Long và Hậu Nghĩa.
Cũng vì vậy, Ban 5 /TÐ
đã soạn thảo nhiều chương
trình để lính và gia đình
vui một cái Tết đặc biệt tại
hậu phương. Ngày ba mươi tháng
chạp, TÐ xuất tiền hành quân,
công thêm tiền thưởng của
Tỉnh và Trung Ðoàn, giao cho Ban 4 ra chợ
Củ Chi, mua sắm gà, vịt, heo, bò,
bánh trái và rượu đế
Bà Ðiểm , làm tiệc tất niên.
Lúc đó, đa số lính của
TD là người Trung, nên trong dịp
Tết chỉ có một số nhỏ có
gia đình tại Sài Gòn và vùng
lân cận được phép miệng
về thăm ga đình, còn hầu như
là ở lại với đơn
vị. Vì khỏi trực gác, nên
lính tha hồ rong chơi khắp hàng quán,
dù phố lỵ Củ Chi nhỏ xiú và
buồn hiu, lưa thưa vài hàng quán
và cái lồng chợ cũng bé
bỏng khiêm nhượng. Cũng may, quận
nằm trên quốc lộ 1, nên có
rất nhiều xe đò xuộu ngược
Sài Gòn-Trảng Bàng-Tây Ninh..cũng
như ngả rẽ tới Bầu Trai, Hiệp
Hòa, Ðức Huệ.. Ðứng
bên đường,nhìn trộm những
người đẹp ngồi trên xe,
đang hối hả mua quà vật khi xe ngừng,
hồn lính cũng cảm thấy phần
nào vơi đi nổi nhớ nhà.
Ở đây mùa đông không
lạnh lắm so với Phan Thiết nhưng
gío nhiều nên cũng tái tê,
se sắt. Bao nhiêu năm lính, lần đầu
được vui một cái tết thị
thành cũng thấy an ủi phần nào
.
Nhưng Tết chưa tới,
tiệc cũng còn đang sửa soạn,
thì lệnh hành quân khẩn cấp
từ BCH Trung Doàn ban xuống. Quân báo
và an ninh TD lái xe ruồng bố khắp
nơi để gom lính,làm cho người
Củ Chi ngạc nhiên tuá ra đường
dòm ngó, như thể họ đang xem hát
tuồng. Và rồi nửa giờ
sau, TD lại lên đường, lính
chỉ mang theo súng đan và nước
uóng với nhiệm vụ giải toả
Ấp Cây Bài vừa bị giặc
lợi dụng lệnh hưu chiến, từ
mật khu Hố Bò tràn vào chiếm
Ấp và bắt đồng bào làm
con tin đỡ đạn. Quân ra đi
như bóng ma đói, ai cũng phờ
phạc buồn rầu thấy rõ, đầu
gục xuống, súng vác vai, bất kể
đội hình kỹ luật, im lặng như
hết. Thế là thêm năm nưã,
tàn mộng tết-xuân.
Bốn giờ rưởi
chiều ba mươi tết, TD 1đã có
mặt ngoài vòng đai Ấp, trong khi đó
toàn bộ Trung Ðoàn đều than
sự cuộc hành quân này và
các đơn vị đang dần xiết
vòng vây. Súng nổ khắp bốn
hướng giữa ta và địch,
từ trong Ấp cho tới Làng Paris
Tân Qui, Bến Cỏ, Phú Hòa, Ấp
Nhà Việt.. chỗ nào cũng có
đụng lớn. Riêng TD 1/43 án ngử
ngay con đường tỉnh lộ dẫn
vào Ấp, đường đã
bị cày xới tan nát. Ấp nằm
trong tầm ngó nhưng mù mịt vì
bom đạn lửa khói và rừng
cao su ngút ngàn che phủ. Cánh đồng
lúa ven làng đang bắt đầu
ươm hạt, mùi thơm sữa lúa
theo gió thoang thoảng khắp nơi, mũi
mòng từng đàn đáp đậu
trên da thịt, tha hồ xơi tái lính.
Trong cảnh buồn rầu thê thiết, ai
cũng thẩn thờ quên đau vì
muỗi chích, khi nghĩ tới đồng
bào vô tội đang nằm giữa
dao thớt chiến tranh, khi mà các
nơi khác, mọi nhà đang rộn rịp
náo nức đón xuân về.
Thời gian qua thật chậm, chiến trường
vẫn sôi xục bom đạn. Còi thúc
quân vang dậy dồn dập nhưng lính
vẫn không tiến nổi vì các
khẩu súng cộng đồng của giặc
từ các cao điểm trong Ấp bắn
chận dữ dội, khiến cho lính TD
lần hồi rụng tã tơi như mấy
cánh mai vàng trước gió xuân
tơi tả., khi tiếc tất niên chưa
kịp hưởng, đã vội về
với đất lạnh, đời
lính như vậy sao mà không buồn
?.
Không thể làm gì
hơn, nên BCH hành quân đã xin
Khu chiến thuật nhờ không quân
can thiệp. Màn đêm hững hờ
buông rèm gói trọn vạn vật, chỉ
còn nghe tiếng L19 và Khu trục cơ Skyraider
vần vũ dội bom bắn phá mục
tiêu. Xa xa về hường Sài Gòn,
trời sáng hồng trong đêm tói,
giờ này thiên hạ đang vui say
chè chén nhảy nhót và hạnh
phúc, chắc không ai ngờ tới
, tại một thôn xóm hẻo lánh nghèo
nàn, có không biết bao nhiêu người,
dân cũng như lính, địch lẫn
ta đang lặn lội trong bom đan, chỉ mong
được phép lạ để sống
còn. Suốt đêm trừ tịch,
máy bay liên tục dội bom, Ấp Cây
Bài đắm chìm trong biển lửa,
bên ngoài TD nằm chờ trời
sáng. ai cũng đói lạnh nên
nhiều người mặc kệ lăn kềnh
trên đất ngáy khò, bất kể
cái chết kề cận.
Tờ mờ mồng
một Tết, quân vào Ấp trong nổi
thê lương tận tuyệt, khắp nơi
chỉ là cảnh chết từ người
tới trâu bò heo chó. Giặc đã
chém vè bằng các đường
giao thông hào, bỏ lại nhiều tử
thi lõa lồ bất động. Chiến
tranh tàn nhẩn, oan nghiệt khiến suốt
đời lính không quên được
hình ảnh chết chóc của những
người dân lành vô tội, giữa
nhang đèn bánh mứt..chờ
đón xuân về.
4- CHUYẾN TÀU BA MƯƠI
TẾT:
Chiều hăm chín tết
năm 1978, trại cải tạo Huy Khiêm của
tỉnh Thuận Hải rộn hẳn lên vì
ngày mai cho tới mồng hai Tết, đoàn
tù khổ sai của VNCH tạm nghĩ lao tác,
được đổi khẩu phần
Tết với đường, thịt
heo, cơm trắng không độn và một
bao thuốc có cán. Nhưng quan trọng nhất
vẫn là cái danh sách phóng thích
tù nhân vào mỗi dịp Tết về,
sẽ được cán bộ gọi
trong buổi sinh hoạt hôm nay.
Ðúng 1 giờ trưa
chiều ba mươi tết năm đó,
trại có mười người
được nhận giấy phóng thích
về nguyên quán trình diện. Quỹ
trại không có tiền cho tù nhân
mua giấy xe đò xe lửa, nên ai
lo mạng nấy bằng cách lội bộ,
từ Huy Khiêm tới Ga Suối Kiết
xa chừng 30 cây số. Tám giờ
tối cả bọn tới nhà ga thì
đã lở chuyến tàu chợ,
nên đành phải chờ chuyến
táu suốt Bắc-Nam, Nam Bắc vào lúc
11 giờ khuya cuối năm. Trong bọn chỉ
có tôi về Phan Thiết, còn lại
đều ở rất xa tận Sài
Gòn, Nha Trang.. Chia ly rồi sắp chia ly nữa,
anh em chỉ đành ngậm ngùi trao gởi,
hưa hẹn. Trong khoảnh khắc năm củ
sắp tàn, mọi nhà cài then đóng
cửa đón mừng năm mới,
thì chúng tôi cũng đang chờ
phút giây thay đổi của đất
trời. Ga Suối Kiết nằm cheo leo trong
rừng lá, cạnh vách núi Ông
cao ngất hùng vỹ, bao quanh vài chụp
nếp nhà lá lụp xụp của các
công nhân hỏa xa và dân làm
gổ. Có lẽ hôm nay mọi người
đã về quê ăn tết nên
xóm nhỏ thật đìu hiu không có
một chút sinh khí, chứng tỏ nàng
xuân chưa ghé chốn này. Cũng
may Suối Kiết là một ga lớn
trên tuyén đường xe lửa
Nam-Bắc, nên tất cả các chuyến
tàu chợ và suốt đều
phải ngừng lại, dù khách có
hay không. Về đêm, núi rừng
càng buốt cóng lạnh căm. Bộ
quần áo trận năm nào dù đã
được đắp thêm chục
mãnh vá, vẫn không ngăn nổi
cái sắt se xa xót, như từ một
cõi mộ địa, theo cái lạnh xâm
chiếm tâm hồn những bóng ma
đang lạc lõng trong đêm xuân,
không biết rồi sẽ về đâu,
để kiếm chút hơi ấm của
tình quê. Trong cái hiu hắt của đêm
buồn, cũng đủ để mọi
người nhìn rõ hình ảnh
của sự cô đơn nơi ga lẽ,
từ những thanh sắt han rĩ tróc
sơn trước quầy bán vé,
cho tới hàng ghế gổ mọt đầy
vết bẩn. Tất cả bổng dưng được
trùng phùng một cách ngẩu nhiên
với những người tù
không bản án , những quân, công
, cán cảnh của VNCH bại trận , vùa
được phóng thích trong đêm
tết quạnh quẽ, buồn rầu. Phải
vui lên một chút để mừng
năm mới, thay vì mượn rượu
phá thành sầu, cả bọn lại chụm
đầu vào nhau , rít chung vài bi thuốc
lào ăn tết, trong khi bên ngoài gió
núi lồng lộng thổi, tạt sương
muối vào mặt mũi da thịt, khiến
cho cơn lạnh đói càng thêm hành
hạ mọi người.
Hình như giao thừa sắp
đến, trong mông mênh cùng tận,
như những năm nao, tôi lại âm
thầm lâm râm cầu nguyện cho mẹ
già, em gái, cho ngươi yêu củ,
bạn bè, đồng đội, đòng
bào..được may mắn an bình
trong buổi hổn mang dâu bể. Hởi
ơi giờ này không biết mẹ
già em thơ, có còn như những
ngày xuân dấu ái trước
năm 1975, giao thừa đi lễ chùa,
xin xăm hái lộc, nhà có vui xuân
đón tết hay gia đình cũng
lại như tôi, tại sân ga nơi rừng
núi thẳm tăm tối lạnh lẽo
này, cô đơn, đói lạnh
và nhục nhã trùng trùng.
Kỹ niệm xưa từng
mảng lại trôi bềnh bồng trên
mắt, lén lút đẩn dắt đưa
tôi về thuở hoa niên, khi những
cánh hoa phượng đỏ ối nối
hàng, dọc theo con đường Nguyễn
Hoàng dẫn vào lớp học, đã
bắt đầu rụng rơi lã tã
giữa các trang lưu bút, trên từng
rèm mắt ô môi, cũng là lúc
bọn học trò nghĩ hè làm gã
giang hồ lãng tử, trên những
chuyến tàu hỏa chui Phan Thiết-Sài
Gòn rồi Sài Gòn-Phan Thiết, đi
hoài vẫn không thấy chán.
Rồi những ngày dài
chinh chiến, định mệnh lại đẩy
đưa tôi về chốn cũ Long Khánh-Bình
Tuy-Phan Thiết. Tuy tàu hỏa đã bị
gián đọan nhưng suốt con đường
sắt từ Mường Mán về
Gia Ray, con đường mòn Võ Xu
tới Suói Kiết, kể cả những
suối rạch, bải đá ven sông La
Ngà, đều là những lối
lại qua quen thuộc , đã cùng tôi
chắt chiu suốt đoan đường
tuổi trẻ. Làm sao quên được
những ngày dừng quân ở
Văn Phong, Mường Mán? ngày này
ngồi ngâm nga tách cà phê đen
ngon tuyệt nơi quán lẻ ven sông, ngó
nhìn các chuyền tàu xuôi ngược.
Giờ đây cảnh xưa vẫn nguyên
vẹn, riêng tôi thì ôm một tầng
trời sầu thảm không đáy,
lạc lõng trên quê hương hận
thù với kiếp sống nào hơn
loài cỏ cây. Rồi thì tàu cũng
đến, chúng tôi chia tay trong nước
mắt, cuối cùng ai nấy hấp tấp
lên tàu như kẻ trốn nợ trong
đêm trừ tịch, giữa tiếng
còi tàu lanh lãnh thét vang, phá
tan cảnh tịch mịch của rừng núi
âm u, nghe sao quá ảo nảo lạnh lùng.
Chuyến tàu suốt Sài
Gòn-Phan Thiết đêm nay ế ẩm,
nhiều toa hành khách vắng ngắt
lạnh tanh, không như ngày thường
chen chân không lọt. Có lẽ mai là
mồng một tết nguyên đán, nên
ai cũng muốn ở nhà để
xum họp với gia đình. Ðất
trời buồn mênh mông quá, thêm
gió thổi vi vút từ hai bìa rừng
thả hơi lạnh khắp nơi, nhưng tôi
vẫn muốn ngồi ngoài hành lang để
được nhìn lại quang cảnh cuũ.
Trong các toa tàu, đèn đóm
tối om, dăm ba hành khách nằm dài
trên ghế như đã ngũ tụ
lâu rồi. Mặc kệ, tàu vẫn chạy
xiết trên đường sắt như
con thú điên , với hai ánh
đèn pha phá tan màn đêm tăm
tối. Hởi ơi cuộc đời
sao oan nghiệt quá, trong lúc nhà nhà
đang đầm ấm chờ đón
chúa xuân, thì tôi trong một tối
ba mươi tết, buồn rầu nơi toa
xe lửa lạnh lẽo này, yên lặng
nép mình trong cô quạnh , để
đón một mùa xuân vàng úa
nữa, sắp rơi xuống bờ
vai của cuộc đời. Trong giờ
phút năm củ sắp tàn, con tàu
cũng hối hả lướt qua từng
ga vắng Sông Dinh, Sông Phan, Suối Vận,
Mường Mán rồi Phú Hội
vừa đúng 12 giờ rưởi
sáng . Thế là năm mới đã
qua và tôi cũng đã lở
dịp nghiêng mình chào đón nàng
xuân mới trên quê hương mình.
Trên tàu , ai nấy đều thức
dậy, đang chuẩn bị xuống ga Phan Thiết.
Tất cả đều xa lạ, hờ
hững, buồn rầu, im lặng như bóng
tối, không ai chúc nhau một lời
ngắn ngủi dù là ngày tết.
Bổng đâu đấy nơi một thôn
xóm nào đó, dọc theo con đường
sắt vang lên mấy tràng pháo chuột,
bóng sáng lập lòe như muốn đưổi
theo con tàu, khiến cho hồn thêm buồn
rầu thương tiếc. Nổi náo nức
thầm kín vừa lóe lên, chợt
tắt hẳn khi nghĩ đến thực
tại não nùng.
Hởi ôi mấy chục
năm về trước, tôi , người
lính trẻ xa nhà vẫn đam mê
chạy đuổi theo những giọt mưa
xuân giữa trời lửa loạn.
Nay trong buổi xuân về, người
lính già lội ngược thời
gian tìm vết ngày thơ như còn
giấu đâu đó, nơi vòm
trời đồng đội, và em,
và những tết cuối cùng trong
quân ngũ, để ngẩn ngơ bàng
hoàng xúc động, như thể vừa
bước chân lên con tàu về
quê hương, của những tết
ấm yên hạnh phúc đầu đời./.
Tết 2003
Hồ Ðinh
viết từ xóm biển
|