Người
Lính Chưa Qua Sông
Nguyễn Phúc
Sông Hương
Tiểu Ðoàn
Trưởng. Sư Ðoàn 18 Bộ Binh.
Tù cải tạo. Hiện sống lưu vong
ở Hoa Kỳ.
Trích Tuyển tập "Những
Trận Ðánh Không Tên Trong Quân
Sử" sẽ ra mắt tại Nam Cali
ngày 08/02/2003 và Bắc Cali ngày 15/02/2003.
Sách dày 420 trang bìa 4 màu,
gồm 21 tác giả với 34 truyện/ký.
Giá bán mỗi cuốn 25US ; sẽ
trích ra 5US/cuốn để giúp đỡ
anh em TPB/VNCH. Liên lạc:
nsvietnam@yahoo.com .
* * *
(Cho cháu Trúc
Vy khi cháu khôn lớn để cháu
hiểu và thương ngày xưa của
ông ngoại)
Ngày thứ mười
hai của trận chiến, từ khi lên
Bộ Tư Lệnh họp và nhận lệnh
trở về, Tiểu Ðoàn Trưởng
luôn trầm tư. Nhiều lần Tiểu
Ðoàn Trưởng nhìn Tiểu Ðoàn
Phó như muốn nói gì đó
nhưng rồi lại lắc đầu, yên
lặng. Qua vô tuyến, các đại đội
báo cáo vẫn tiếp tục hoạt động
lục soát trong khu vực trách nhiệm
và tìm thấy rất nhiều xác
lính CS và các loại vũ khí
của họ trong rừng cao su hướng
Tây Nam thị xã. Tiểu Ðoàn Trưởng
cho lệnh các Ðại đội trưởng:
"không cần thiết phải thu lượm
chiến lợi phẩm." Ðến sáu
giờ chiều, Tiểu Ðoàn trưởng
họp các đại đội trưởng
cho lệnh chuẩn bị di chuyển lúc sáu
giờ ba muơi phút. Im lặng vô tuyến
kể từ giờ phút này. Bảy
giờ kém mười lăm, khi Tiểu
Ðoàn vừa đến điểm
tập trung tại ngã ba Tân Phong sát quận
đường Xuân Lộc, Tiểu Ðoàn
Phó và các đại đội trưởng
mới biết lệnh bỏ Xuân Lộc.
Mọi người tái mặt nhưng không
ai nói gì. Tiểu Ðoàn Truởng
nhìn sâu vào mắt Tiểu Ðoàn
Phó Nguyễn Mạnh Tông như muốn
san sẻ nổi buồn và sự lo lắng
của bạn mình. Nguyễn Mạnh Tông
có vợ và mẹ vợ đang
ở Xuân Lộc. Bây giờ quân
rút, số phận người thân
ở lại sẽ ra sao khi quân lính
CS tràn vào phòng tuyến trống nội
ngày mai. Nguyễn Mạnh Tông nhìn Tiểu
Ðoàn Trưởng gật đầu
và nói trong xúc động: - Không
chỉ riêng gia đình tôi mà còn
rất nhiều gia đình vợ con binh
sĩ Sư Ðoàn phải chịu ở
lại. Buồn và lo thật nhưng đành
chịu. Nếu Thiếu Tá có cho tôi
biết trước, tôi cũng sẽ
không về từ biệt gia đình.
Mọi người ai cũng biết đến
bài học rút quân đầy cay đắng
của quân dân vùng Cao nguyên vừa
mới tháng trước đây
thôi. Gia đình kéo theo, lính không
còn lòng dạ nào để chiến
đấu...
Rút bỏ Xuân
Lộc theo tình hình biến chuyển của
chiến trường, và tình hình
chung của đất nước, nhưng
dù sao đi nữa, lòng người
lính Sư Ðoàn cũng vô cùng
đau xót khi phải bỏ vùng đất
nhà quen thuộc. Và còn nữa:
sự liên hệ mật thiết với
người ở lại, ra đi chẳng
khác gì ruột cắt làm đôi.
Ðêm đó trên đường
hành quân, anh em binh sĩ nhận ra được
Tư Lệnh Sư đoàn kiêm Tư lệnh
mặt trận Xuân Lộc, Thiếu Tướng
Lê Minh Ðảo, cùng di chuyển đường
bộ với họ... Tại sao Tư Lệnh
không xử dụng trực thăng riêng
của ông? Buổi trưa họp ở BTL,
Tiểu Ðoàn Trưởng nhận thấy
Tư Lệnh không được khoẻ,
gương mặt hốc hác với đôi
mắt sâu và thâm quần của một
người mất ngủ. Thế mà
đêm nay rút quân ông lại không
xử dụng trực thăng riêng của
mình để được khoẻ thân
và an toàn như nhiều cấp Tướng
lãnh chỉ huy khác? Thêm một lần
nữa, vị Tướng trẻ chứng
tỏ tinh thần sát cánh chiến đấu
cùng với thuộc cấp, trong mọi
hoàn cảnh, nhất là trong những
giờ phút sinh tử. Với một
cấp chỉ huy như vậy thì anh em binh sĩ
làm sao mà không hăng say chiến đấu...
Nhìn lại, ba năm giữ chức
vụ Tiểu Ðoàn Trưởng dưới
quyền ông, vỏn vẹn chỉ có ba
chai Martel mình tặng ông trong dịp Tết.
Ðáp lại khi Tiểu đoàn về
trú đóng gần bộ Tư Lệnh
Sư đoàn, ông đã ưu ái
tổ chức tiệc, dạ vũ cho tất
cả sĩ quan Tiểu đoàn và chính
ông cùng tham dự, lên sân khấu
đàn và hát cho anh em binh sĩ nghe.
Sư đoàn 18
rút khỏi Xuân Lộc, xe tăng và
bộ binh càn qua chốt địch chận
trên đường 22 mà đi, về
đến Bình Giả vào sáng hôm
sau gần như toàn vẹn. Chỉ riêng
anh em chiến sĩ Lữ Ðoàn Dù
tăng cường cho mặt trận Xuân
Lộc rút sau, trách nhiệm đoạn
hậu nặng nề đã chạm súng
với quân CS bám theo. Trở về
căn cứ Long Bình vài ngày để
bổ sung vũ khí. Ngày 25 tháng Tư,
Tiểu đoàn theo Trung đoàn lên
lập phòng tuyến tại vùng Trãng
Bom, ranh giới Biên Hòa, Long khánh.
Cùng với một Chi đoàn M113 thuộc
Thiết Ðoàn 5 do Ðại Úy Nguyễn
Sơn chỉ huy, Tiểu đoàn dàn quân
bên này hào sâu cắt ngang Quốc
Lộ 1. Quân số Tiểu Ðoàn sau
trận Xuân Lộc còn lại trên 300.
Một điều khiến các cấp chỉ
huy Tiểu đoàn rất vui là không
một người lính nào đào
ngủ dù mấy ngày ở Long Bình,
Biên Hòa, nơi anh em có nhiều cơ
hội để bỏ về Sài Gòn,
nơi có gia đình đang trông đợi.
Tất cả anh em không đành lòng
bỏ lại bạn bè, cấp chỉ huy, tất
cả cùng chấp nhận đồng lao
cộng khổ cho đến giờ phút
cuối cùng. Sáng ngày 27 tháng Tư,
xe tăng địch bò đến phía
bên kia phòng tuyến. Hai chiếc M41 của
Thiết Ðoàn 5 nguỵ trang chực sẳn
bắn đại bác 90 ly trúng một
tăng địch. Nhưng, từ hai mặt
phải trái cách quốc lộ 1 khoảng
trên 100 mét, cùng một lúc lính
bộ binh và xe tăng địch xuất
hiện. Thì ra lực lượng địch
biết không thể băng qua hào sâu
nên len lỏi trong rừng, bọc vòng
tạo thành thế gọng kềm để
kẹp chặt Trung đoàn 48. Qua vô tuyến,
lúc đó mới biết rằng
Bộ Chỉ Huy Trung Ðoàn và Tiểu
Ðoàn 1 đóng trong đồn điền
cao su Trãng Bom đã rút về hướng
Nam từ lúc tờ mờ sáng.
Như vậy tại tuyến đầu chỉ
còn lại Tiểu đoàn 3 và một
Chi Ðoàn M113 trong lúc xe tăng và
bộ binh địch ào ào tràn ra
từ ba hướng. Sau lưng không
còn lực để dựa thì còn
đánh đấm gì được
nữa!.Nếu không nhanh chân thì
chắc chắn sẽ bị quân CS bao vây
cắt đường rút và diệt
gọn. Tiểu Ðoàn Trưởng lệnh
cho các đứa em phân tán, rút
nhanh ra đường. Tội nghiệp chi đoàn
M113 của Ðại úy Sơn phải tức
tốc phân tán để đón
những người bạn bộ binh trong
lúc tăng địch bắn phá dữ
dội. Nếu thiếu tinh thần chiến đấu
và đồng đội thì anh em thiết
giáp đã bỏ bạn bè bộ
binh, vì thật ra M113 đâu phải là
đối thủ của tăng T54 CS. Ngay cả
M41 của mình cũng đã quá già
nua yếu ớt đối với T54.
Nhưng nếu M113 mà bỏ chạy thì
đâu còn là chiến sĩ Thiết
Giáp Quân lực VNCH. Hơn nữa,
Tiểu đoàn 3/48 với Chi đoàn
3 Thiết Ðoàn 5 đã quá quen
biết giao tình qua bao cuộc hành quân
chung khắp vùng 3 chiến thuật và
bên kia biên giới Campuchea trong năm
1970. Chi đoàn M113 của Ðại úy
Sơn vốn đã quen địa hình
nên sau khi đã gom được bộ
binh liền rút rất nhanh. T54 địch
đuổi theo, nhưng không làm được
gì. Ðây thật sự là một
cuộc rút chạy. Ðáng buồn thật.
Ðáng buồn vì phải bỏ lại
hai chiếc M41 anh hùng ở tuyến đầu,
đáng buồn vì đơn vị chưa
nổ một phát súng đã tìm
đường thoát thân. Nhớ
lại đêm nào ở mặt trận
Bến Cát Bình Dương năm 1973, lính
Tiểu Ðoàn đuổi tăng địch,
bắn cháy tăng địch, và mới
hai tuần trước đây thôi
lúc còn ở mặt trận Xuân
Lộc, tăng địch là miếng mồi
ngon cho M72. Ðáng buồn khi nghĩ đến
anh em chiến sĩ Ðịa Phương quân
ở căn cứ Bầu Cá chiến
đấu trong tuyệt vọng. Tội nghiệp
cho những chiến sĩ và gia đình
con bị bỏ lại trong căn cứ Bầu
Cá nhỏ bé, cô đơn. Ngày
28 tháng tư, Tiểu đoàn đặt
dưới quyền chỉ huy của Trung tá
Nguyễn Văn Nô, Thiết Ðoàn
Trưởng Thiết Ðoàn 5 làm
tuyến án ngữ mặt bắc căn
cứ Long Bình. Ngày hôm đó,
chỉ có tăng của hai bên bắn
nhau, còn bộ binh ngồi chơi, la hét
cổ vỏ mỗi lần tăng địch
bị trúng đại bác 90 ly của M41.
Lúc này mà có M48 lâm trận
thì T54 của địch chắc phải cháy
như cây đuốc nhiều hơn nữa.
Từ đồi cao nhìn xuống Quốc
lộ, người lính Sư đoàn
hết sức khâm phục những
người bạn Nghĩa quân Hố
Nai, chỉ với súng carbin và M16 trong
tay cũng bố trí chận đánh bộ
binh địch nếu địch dám xâm
phạm vào vùng đất xóm làng
thân thương của họ. Ngày 29 tháng
tư, lúc 5 giờ chiều, Tư Lệnh
gọi Trung Tá Thiết đoàn trưởng
Thiết Ðoàn 5 và Tiểu đoàn
trưởng 3/48 đến BTL trong căn cứ
Long Bình để họp cùng Tướng
lê Minh Ðảo, Trung Tá Nguyễn Văn
Nô và Tiểu đoàn trưởng
tiểu đoàn 3/48. Khi đang họp thì
chuông điện thoại reo vang . Tướng
tư Lệnh nhấc ống nghe. Một phút
sau ông bỏ máy với vẻ chán
nản và nói: - Tổng Thống Dương
Văn Minh hỏi chúng ta có giữ
được Long Bình Biên Hòa để
chờ thương thuyết không? Ông
nhìn thẳng hai thuộc cấp rồi chậm
rải từng tiếng một: - Phải giữ
bằng mọi giá, đây là vòng
đai cuối cùng để bảo vệ
Sài Gòn! Ông nhướng đôi
mắt sáng lên: - Thiết Ðoàn
của Trung Tá Nô chưa suy xuyển bao nhiêu
phải không? Còn em, quân số Tiểu
đoàn còn được bao nhiêu
? - Thưa Thiếu Tướng, còn đủ,
chưa mất mát người nào
từ khi rời khỏi Xuân Lộc!
Nhìn hai anh em chúng tôi, Thiếu Tướng
nói với giọng cương quyết:
- Các em phải chiến đấu toàn
lực, không được để
mất thêm một tấc đất nào!
Trên tấm bản
đồ hành quân vùng 3 Chiến
thuật, đầy ký hiệu màu đỏ
chỉ các đại đơn vị địch:
Quân đoàn 1 từ hướng
Bắc theo QL 13, QÐ2 và 4 từ hướng
Ðông Bắc đang áp sát Biên
Hòa, QÐ 3 từ Tây Bắc theo QL
1 gần Củ Chi, các Sư đoàn, Trung
đoàn, tổng cộng gần 16 Sư đoàn
quân CS với những mũi tên
đỏ cùng chỉ hướng Sài
Gòn. Trung Tá Nô lắc đầu
khi nhìn khuôn mặt hốc hác vì
thiếu ngủ và lo âu của vị Tư
Lệnh. Mình cũng vậy thôi phải
không Trung Tá, nhưng dù sao thì chúng
ta ngày quần thảo với địch
quá mỏi mệt, đêm nằm xuống
đầu không kịp suy nghĩ đã
bị hơi đất xông lên kéo
giấc ngủ đến rất mau. Những
giấc ngủ mệt nhưng có còn hơn
không. Tư Lệnh thì chắc không ngủ
được bởi cái đầu
chứa đầy hình ảnh những
mũi tên đỏ chỉ về Thủ
đô. Ngày mai sẽ có giải pháp,
Tổng Thống Dương Văn Minh vừa
nói như vậy. Giải pháp như thế
nào. Giải pháp gì khi chúng ta đang
ở trong thế yếu? Nhượng bộ
và nhượng bộ mà thôi. Lời
nói của Tổng Thống khi ông nhậm
chức ngày hôm kia rỏ ràng đã
tỏ ra quá nhiều nhân nhượng
và sợ hải kẻ thù, làm
mất tinh thần toàn quân. Ông dùng
hai chữ "anh em" để chỉ kẻ xâm
lược như một đòn tình
cảm, nhưng chắc chắn ông chẳng
bao giờ được phe bên kia đáp
ứng trong "tinh thần anh em" đó. Khoảng
11 giờ đêm 29 tháng Tư, đài
phát thanh Sài Gòn phát lời
huấn lệnh của Tướng ba sao Vĩnh
Lộc, quyền Tổng Tham Mưu trưởng
QLVNCH: - Các cùi cố gắng giúp
Tổng Thống hoàn thành nhiệm vụ
lịch sử! Có phải chăng đây
là lời giả biệt của vị
Tướng ba sao? Linh cảm cho anh em chiến
sĩ biết rằng lại thêm một cấp
chỉ huy cao cấp đào ngủ, bỏ
nước ra đi. Có một chút
gì cay đắng, buồn bực và
khinh thường trong lòng những người
chiến binh. Không! Chúng tôi không
bỏ hàng ngủ! Vẫn còn những
người lính Bộ Binh và Thiết
Giáp đầy gian khổ nguy nan này, vẫn
còn rất nhiều đơn vị trên
các trận tuyến chung quanh Thủ đô
yêu quý. Sư đoàn 5 ở Lai
Khê của Chuẩn Tướng Lê Nguyên
Vỹ, Sư Ðoàn 25 ở Củ Chi
của Chuẩn Tướng Lý Tòng
Bá, và hàng hàng lớp lớp
chiến sĩ anh hùng các đại đơn
vị Tổng trừ bị Dù, Thủy
Quân Lục chiến, Biệt Ðộng Quân.
Những cánh chim đại bàng của
không quân VNCH vẫn còn bay, những
hạm đội của Hải quân vẫn
còn trên sông ngòi, mặt biển
Tổ quốc.
Ðêm đó,
pháo địch từ mọi hướng
rót xuống Long Bình như không ngừng
nghỉ. Khoảng 3 giờ sáng toàn
thể các đơn vị được
lệnh rút khỏi Long Bình kéo về
bờ Nam sông Ðồng Nai làm phòng
tuyến. Lúc qua thành phố Biên Hòa,
thật ngạc nhiên khi nhìn thấy rất
nhiều xe tăng tối tân M48 bố trí
khắp nơi trong thành phố. M48 nằm
đây để chờ T54 của địch
vào thành phố rồi mới nổ
súng hay sao ? Biết còn có cơ hội
nổ súng hay không? Sao Tư Lệnh Quân
đoàn Trung Tướng Nguyễn Văn
Toàn không tăng cường M48 cho
chiến tuyến Trãng Bom mà giao trách
nhiệm nặng nề cho những chiếc
41 có từ Ðệ Nhị thế chiến?
Tiểu đoàn Trưởng nuốt nước
bọt đắng khô cổ nhưng nước
mắt thì như muốn ứa ra đầy
uất ức. Người ta quý những
chiếc tăng 48 này hơn những mạng
người. Một chiếc tăng M48 giá
mấy triệu Mỹ kim trong lúc giá một
người lính bằng 12 tháng tiền
tử tuất. Thôi đi, đừng
suy nghĩ vẩn vơ, ngươi chỉ là
một sĩ quan chỉ huy nhỏ, cầm Tiểu
đoàn còn chưa xong, biết gì
mà vội trách móc các cấp
chỉ huy cao cấp của mình! Ngày 30 tháng
Tư lúc trời vừa hừng
sáng, đơn vị vừa xuống
xe đang bố trí gần khu Nghĩa trang
Biên Hòa thì quân CS với xe
tăng treo cờ MTGP dẩn đầu đoàn
Molotova theo xa lộ hướng về Sài
Gòn. Họ đi một cách ngang nhiên
như đoàn xe diễn hành. Mấy
chiếc tăng dẩn đầu, thỉnh thoảng
còn nổ súng bắn vu vơ vào
hai bên đường, còn bộ binh
trên xe Molotova vẫn ngồi yên. Hỏa
lực từ vài chiếc M113 trên
đồi Nghĩa trang bắn theo nhưng đoàn
xe CS vẫn tiếp tục theo hướng
đã định. Lúc này thì
Bộ Binh đã tách rời Thiết
Giáp. Không biết Thiết Ðoàn
5 sau đó về đâu, còn Bộ
Binh gồm Bộ Chỉ Huy Trung Ðoàn 48 với
Trung đoàn trưởng Trung Tá Nguyễn
Chí Công và toàn bộ Tiểu đoàn
3 cùng băng đồng tìm cách
về Sài Gòn. Trung Ðoàn phó
là Trung Tá Khôi đi cùng Tiểu
đoàn 1/48 cũng trực chỉ hướng
Thủ Ðô. Người lính lúc
này sốt ruột lắm. Phải di chuyển
cho nhanh về tiếp tay với các lực
lượng bạn ở Sài Gòn
để giữ cho được Thủ
đô yêu quý của người
miền Nam. VC từ trong các làng, sau
các lùm tre bắn đuổi theo, anh em
cũng không cần bắn trả lại.
Thỉnh thoảng nghe những tiếng nổ
lớn từ hướng Sài
Gòn, và nhìn những cụm khói
đen bốc cao từ lòng Thủ đô,
bước chân người lính
như muốn bốc lên khỏi những
cánh đồng đất bùn đang
làm chậm bước. Thấy lính
Sư Ðoàn, anh em Ðịa Phương
Quân bỏ đồn bót, xách súng
đạn chạy theo để cùng về
Sài Gòn chiến đấu. Ðồn
bót làm gì nữa khi Sài Gòn
sắp mất. Nhưng!!!... Lúc đó
khoảng mười giờ, cái thời
gian lạ hoắc và đáng nguyền
rủa. Bàng hoàng, sửng sốt, tuyệt
vọng bỗng ào đến giữ
chặt cứng những bước
chân, làm mắt hoa lên và tim như
nghẹt thở khi tiếng nói của một
người xa lạ vang lên từ chiếc
radio nhỏ người lính mang theo bên
mình. Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu
Hạnh, ông là ai? Chắc ông không
phải là Nguyễn Hữu Hạnh, con
cọp Ba Ðầu Rằng nổi tiếng,
từng khiến Cộng Sản kinh sợ
ở Biệt Khu 41 Phước Bình Thành?
Nguyễn Hữu Hạnh này là Nguyễn
Hữu Hạnh xa lạ vừa được
Tổng Thống hai ngày phong chức Tham
Mưu trưởng QLVNCH. Chúng tôi nghi
ngờ ông không phải là một
vị Tướng lãnh của QLVNCH, bởi
vì nếu thật ông là Tuớng
từng cầm quân trận mạc thì
chắc ông đã không quên ý
chí kiêu hùng của người
lính VNCH. Chúng tôi, những con xe đã
ủi hết cuộc đời, những
con tốt đã liều lĩnh qua sông,
những con mã chạy không kịp thở,
những con pháo tự nổ tung xác
để làm gì trong bao nhiêu năm
tháng qua, để bây giờ phải
lắng nghe, tuân thủ cái lệnh buông
súng đầu hàng nhục nhã!? Quý
vị không thấy nhưng chúng tôi
thấy những bạn bè đã
hy sinh đang sống lại, khóc lóc và
nguyền rủa... Ngay cả những oan hồn
người lính CS chết trên đường
vào Nam cũng đang cười vào
đầu óc ngây thơ của quý
vị đang ngồi trong dinh Ðộc Lập,
trong bộ Tổng Tham Mưu!! Ðầu hàng!
Thật quá dể. Chúng tôi có thể
làm được điều đó
ngoài mặt trận, nhưng những người
lính trực diện vơi súng đạn
đã không làm vì còn danh dự,
trách nhiệm đối với Quân
Lực và Tổ Quốc. Không bao giờ
chúng tôi nghĩ đến ngày QLVNCH
phải đầu hàng. Thực tế
tại các chiến trường trong nhiều
năm chiến đấu đã cho chúng
tôi niềm tin rằng QLVNCH mạnh hơn quân
CS Bắc Việt trên mọi mặt. Chúng
ta yếu kém hơn họ trên mặt trận
tuyên truyền láo khoét mà thôi.
Chao ơi, nào ai muốn chiến tranh huynh đệ
tương tàn. Nhưng có ai nhận chúng
ta là huynh đệ không? Và họ có
nghĩ gì đến tổ quốc Việt
Nam hay là chỉ phục vụ cho tổ quốc
Cộng sản bạo tàn? Chúng ta không
muốn chiến tranh, chúng ta chỉ là
kẻ tự vệ. Kẻ tự vệ bao
giờ cũng sáng ngời lý
tưởng, huống gì lý tưởng
chiến đấu của chúng ta là
hai chữ Tự Do. Này, các "người
anh em", hãy đến đây nhận lấy
vũ khí, rồi trả thù, hành
hạ, đánh đập, tù ngục chúng
tôi. Khi buông súng là mặc nhiên
chấp nhận tất cả. Và để
rồi xem ý nghĩa hai chữ "anh em" mà
thượng cấp chúng tôi dùng
sẽ như thế nào! Anh em đồng
đội của tôi ơi, cho đến
giờ phút này, tuy lòng đau
đớn nhưng chúng ta thật bình
thản, không hề mảy may sợ hãi,
bởi vì chúng ta đã cầm
súng để tự bảo vệ mình.
Chúng ta chiến đấu trong tinh thần
dân tộc máu đỏ, da vàng, không
thẹn với lương tâm bởi
tinh thần mã thượng và nhân
đạo của con nguời đối
với con người nơi trận tuyến.
Chúng ta quý mạng sống kẻ thù
như mạng sống của mình. Chưa, chưa
bao giờ chúng ta nhẫn tâm ném
một trái lựu đạn xuống hầm
VC vì tiếng khóc của bà mẹ,
của người vợ van xin cho đứa
con, cho người chồng lầm đường.
Chưa bao giờ chúng ta căm thù,
hành hạ kẻ vừa bắn ngã
đồng đội anh em mình bởi
vì chúng ta hiểu đó là quy
luật của chiến trường. Những
người lính hai bên ai cũng muốn
mình chiến thắng. Người lính
miền Nam chúng ta nổ súng không có
thù hận đem theo. Và đó cũng
là một nguyên nhân mà chúng
ta thành kẻ chiến bại ngày hôm
nay.
* * *
Lúc này là
11 giờ 30, mặt trời và mặt
đất như chưa bao giờ biết
nhau như những người lính chưa
bao giờ phải buông súng đầu
hàng. Gần ba trăm tay súng, bỗng
chốc tự mình làm cho mình còn
lại tay không. Tay không trong hiện tại
đớn đau và tay không trong tương
lai khốn cùng. Ba trăm con người
sắp hàng bước đi trước
họng súng của mười du kích
CS. Có lẻ trong giây phút này đây
quý vị trong Dinh Tổng Thống cũng
không hơn gì chúng tôi. Nơi đây,
những du kích này còn lo sợ
chúng tôi phản ứng còn quý
vị thì đang ngoan ngoãn vâng lời
dạ thưa tôi xin bàn giao, tôi xin đầu
hàng. Trong Dinh tổng Thống không có
mẹ già khóc, không có những
em nhỏ nhìn theo mến thương, trước
đám đông, nhiều đồng
bào còn hoan hô các anh chiến sĩ
QLVNCH. Ðây là đồng bào thuộc
xã Long Thạnh Mỹ, Thủ Ðức,
những con dân miền Nam nhân ái
, yêu chuộng tự do. Họ đang đứng
thành hàng hai bên đường,
không phải để đón tiếp
kẻ cầm vũ khí trong tay mà đón
tiếp những người vừa
bị lột trần giày, nón. Những
nụ cười rất quen thuộc, thân
thương mà kẻ chiến thắng cũng
như quý vị cao chạy xa bay, đầu
hàng không bao giờ được
trao tặng. Cởi dày, cởi áo
phải chăng là khúc cuối của
vở bi kịch? Phải, chính là bi
kịch, nhưng đoạn cuối thì chưa
đến. Vì là bi kịch nên cha,
mẹ, anh chị, em đứng hai bên đường
rơi nước mắt. Tất cả mọi
người đều sợ chiến
tranh, giờ đây chiến tranh đã
chấm dứt mà sao đồng bào
nơi đây không cảm thấy có
niềm vui. Phải chăng khi đã thật
sự thấy tận mắt những gương
mặt hốc hác, những nụ cười
không lành lặn, trọn vẹn, những
áo bạc màu rách vai, những đôi
dày vẹt đế đầy bùn
đất... đồng bào mới
hiểu được có những
chịu đựng tận cùng của con
người nơi các chiến sĩ
miền Nam của họ. Và chính đó
là tình thương chân thật . Mừng
cho các con còn sống! Mừng cho các
anh yên lành! Chúng con nghe mẹ nói,
muốn cầm tay mẹ và thì thầm
mẹ ơi, chúng con đang chết từ
giây phút này, một cái chết
dưới thấp hơn tất cả cái
chết trên đời thưa mẹ. Các
anh muốn nói với em rằng có
những vết thương đang hằn
sâu, sâu hơn những vết thương
các anh nhận từ chiến
trận .
* * *
Một tên xã
đội trưởng du kích hỏi: -
Ai là cấp chỉ huy ở đây?
Mọi người chờ đợi.
Tiểu Ðoàn Trưởng trả lời:
- Tôi! - Anh tập họp tất cả binh lính!
Xã đội trưởng nói, giọng
không được tự chủ khi
đối diện với mấy trăm
con người mắt nhìn hắn như
trêu ghẹo... Lúc đó trong sân
chùa Long Thạnh Mỹ, những người
lính ngồi bệt xuống đất, cởi
những chiếc vớ nhà binh rồi
đưa lên mũi ngửi, mỉm cười
nhìn nhau. Phải không bạn, chúng mình
mang những đôi vớ này
đã mấy ngày từ hôm rút
khỏi Trãng Bom mà không có thì
giờ để thay chiếc khác. Cởi
những đôi vớ ra, bàn chân
thật thoải mái nhưng tâm hồn sao
lại u uất. Mùi hôi của vớ
không nặng bằng mùi phiền muộn.
Khi thấy anh em binh sĩ cởi giày, nhiều
bà con chạy về nhà lấy dép
ra cho. Lính và dân trao đổi giày
nhà binh và dép nhẹ với những
nụ cười như muốn nói với
nhau: "Cám ơn em đã cho anh đôi
dép, đôi dép khiến đôi
bàn chân anh nhẹ nhàng. Cám ơn
anh đã nhường cho em đôi
giày lính, đôi giày này sẽ
tiện lợi cho em trong những tháng
ngày tương lai." Thấy đồng bào
vui mừng khi nhận đôi bốt mòn
đế, người lính ngạc nhiên
nhưng rồi chợt hiểu. Phải, chính
từ giờ phút này đây,
những cuộc đời sẽ thay
đổi, những khốn khó đang
chực chờ. Tội nghiệp các em
đang độ tuổi lớn khôn,
chỉ mới ngày đầu mà
đã thấy ra con đường tương
lai đen tối! Khoảng hai giờ chiều
thì đồng bào đem thức
ăn đến sân chùa Long Thạnh Mỹ.
- Các con ăn cơm cho đở đói!
- Các chú ăn cho thật no nghe!. - Các
anh cứ tự nhiên như ăn cơm
của mình!Ðồng bào trong xã
mời các anh, thương các anh lắm!
Ðã lâu lắm rồi, đây
là bữa cơm thịnh soạn nhất
mà người lính chiến đấu
được hưởng. Cơm gạo
trắng, thịt heo kho măng thơm phức.
Nhiều đồng bào đứng
xem lính ăn, cười mãn nguyện.
- "Trưa nay ăn thịt kho, chiều nay ăn
cá lóc kho nghe các con!" Mẹ nói.
- "Ra giếng chùa tắm cho mát rồi
đi nghĩ cho khoẻ nghe các con!" Cha bảo.
Tội nghiệp vị sư già gần 70 tuổi,
không quen mùi thức ăn sinh vật,
nhưng cũng đi từ nhóm này
đến nhóm khác thăm hỏi như
là một người cha sau bao ngày
xa xách con mình. Hầu hết anh em binh sĩ
đều ăn uống tự nhiên, rất
ngon lành. Những sĩ quan chỉ huy thì
không bình yên như vậy. Có người
không nuốt nổi vì nước
mắt lưng tròng. Khóc vì tủi
nhục và cũng vì sung sướng.
Nếu chiến đấu không có lý
tưởng, không vì tự do hạnh
phúc của dân tộc thì sao có
được bữa cơm đầy
tình nghĩa đáp đền hôm
nay. Buổi chiều sân chùa vắng lặng
vì anh em binh sĩ vào chơi trong làng.
Trung Ðoàn Trưởng, Tiểu Ðoàn
Trưởng và vài sĩ quan ở
lại nghe vị sư già nói chuyện.
Trước đây, sư đã từng
có chức vụ trong ủyban kháng
chiến Liên khu 5 ở miền Trung, nhưng
sư bỏ trốn vào Nam khi nhận rõ
bản chất của người CS. Sư
nói: - Quân Ðội miền Nam có
lý tưởng nhưng không tinh nhuần
lý tưởng, lại thiếu khôn
ngoan xảo quyệt, nhân nghĩa giả như
Cộng Sản. Khi được hỏi về
tương lai của miền Nam thì vị sư
lắc đầu: - Thầy e rằng rồi
đây ngay những chiếc áo tu nâu
sồng nghèo khó cũng khó được
mặc! Ðôi mắt vị sư buồn
nhìn về xa xôi: - Từ khi cuộc
chiến bùng nổ lớn, mất miền
Trung, đồng bào hàng hàng lớp
lớp chết vì chạy giặc, kinh kệ
không vào trong đầu óc thầy
nữa! Ðôi mắt sư nhìn sâu
vào mắt mọi người với
tiếng thở dài. Giọng một người
run run: -- Vì đau khổ của chúng sanh
mà tâm thầy không an, đôi mắt
thầy hướng ra ngoài cửa
Phật, còn chúng con hôm nay có được
giây phút an lạc hiếm hoi trong cuộc
đời. Chỉ sợ mai đây
khi bước ra khỏi bóng chùa...
Sư chắp tay hướng lên bàn
thờ Phật: - Mô Phật! Bây giờ
thì mọi chuyện đã xong, chỉ mong
rằng họ sẽ khôn ngoan giải quyết
trong tình nghĩa huynh đệ, đồng
bào ruột thịt thì mới mong oán
oán không chất chồng! Lời
Sư trầm hẳn xuống: - Các con rồi
đây phải cố gắng nhẩn nhục
chịu đựng, chấp nhận tất
cả. Thầy tin rằng đồng bào
mình không ai không thương các
con. Hãy tạm quên lý tưởng
mà luôn luôn nghĩ đến sự
tồn tại thực tế của gia đình
mình! Khi nghe Sư hỏi thăm gia cảnh mình,
tự nhiên mọi người đều
ứa nước mắt. Nước
mắt sư cũng ứa ra. Vì thương
nhớ quê nhà, lo âu cho đạo
pháp hay biết trước số phận
sắp tới của những con người
còn trẻ đang quây quần trước
mặt mà thầy khóc? Có lúc
nào đó, lòng chợt nhớ
đến mẹ. Không biết mẹ còn
ở Huế hay lạc bước đến
phương nào từ khi Huế mất.
- Ðêm nay thầy không thỉnh kinh, các
con vào chánh điện mà nghỉ!
Sư nói, rồi nhẹ nhàng đứng
dậy. Anh em cũng đứng dậy chào
người. Sư bước đi, dáng
gầy xiêu xiêu. Màu nắng chiều
tháng Tư nhạt nhòa trên vai áo
nâu sồng, màu nắng loang lổ trên
bậc thềm chùa như những mảnh
vá của tâm hồn những người
tạm nương nhờ cửa Phật
đêm nay. Buổi tối anh em binh sĩ về
sân chùa đầy đủ. Dưới
ánh trăng mờ mọi người
nằm la liệt, có người ngủ
say bất động như xác chết. Một
vài tiếng ho, ú ớ từ
đâu đó vang lên. Không ngủ
được, Nguyễn Mạnh Tông ngồi
dậy nói : - Anh Ba ơi, anh em mình đi
một vòng trong sân thử xem!* Trần
Văn Minh ÐÐT Ðại Ðội Chỉ
huy, nghe nói cũng ngồi dậy: - Em đi
với anh Ba và anh Tư! Tông hỏi:
- Có cần đếm thử xem anh em
còn đủ không? - Thôi khỏi cần.
Chắc không có anh em nào bỏ đi
đâu! Tiểu Ðoàn Trưởng
nghĩ thầm: "Anh em ai bỏ đi lúc này
cũng được nhưng chắc không
ai nỡ, anh em biết rằng nếu có
người bỏ đi thì ngày mai
các sĩ quan chỉ huy sẽ bị làm
khó dể. Anh em ở lại để
tỏ rỏ tình huynh đệ và tính
kỷ luật của đơn vị một lần
cuối. Cám ơn các em. Chúng ta chỉ
còn với nhau ở nơi yên
tỉnh này một đêm thôi. Rồi
ngày mai... "
* * *
Mọi người
ngước mắt nhìn bầu trời
phương xa đang treo lơ lửng một
vài trái sáng. Chắc chắn đâu
đó, quanh Sài Gòn và ngay trong
lòng Sài Gòn giờ phút này
vẫn còn có những người
vẫn tiếp tục chiến đấu. Còn
vùng 4 chiến thuật nữa. Vùng
bốn không đầu hàng CS. Tướng
Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng là những
danh tướng, quý vị sẽ không
tuân lệnh tổng thống Dương Văn
Minh. Vùng bốn dân đông, kinh tế
phồn thịnh sẽ là nơi quy tụ
những anh hùng. Khi ba người trở
lại chỗ cũ thì thấy mấy anh
em thuộc Trung đội Quân báo của
thượng sĩ Bé đang ngồi nhìn
dáo dác chung quanh. Bé nói: - Em giật
mình thức dậy không thấy Thiếu
Tá và hai Ðại Úy nên gọi
anh em dậy đi tìm! Tiểu Ðoàn
Trưởng cám ơn rồi bảo mọi
người đi ngủ. Tình cảm anh
em vẫn còn gắn bó quá, thật
không có gì thay đổi dù Tiểu
Ðoàn Trưởng bây giờ
không còn là Tiểu Ðoàn Trưởng,
sĩ quan không còn là sĩ quan... Ðặt
lưng nằm xuống, nhưng ba người
vẫn không ngủ được. Giờ
phút này, thật sự chỉ có
giờ phút này mới nghĩ
đến gia đình vợ con, mấy
ngày qua chỉ nghĩ đến sự
an nguy của đơn vị. Chỉ có những
người lính chiến đấu mới
biết rõ điều này hơn ai hết.
Một đêm yên lành, thể xác
bềnh bồng trôi qua đêm. Sáng
1 tháng 5, nắng đã lên ngoài
sân chùa. - Mời Trung Tá, Thiếu
Tá uống trà! Nguyễn Toàn, nguyên
là người phụ trách cơm nước
cho Tiểu Ðoàn Trưởng, pha trà
và mời. -Thôi anh Toàn, đừng
gọi Trung Tá, Thiếu tá, Ðại
Úy gì nữa, mọi người
đều như nhau, cùng một hoàn cảnh
cả! - Dạ, nhưng tụi em vẫn xem như
không có gì thay đổi! Tiểu Ðoàn
Trưởng quay qua người lính
quân báo bên cạnh, hỏi nhỏ: -
Cây súng nhỏ của tôi cậu còn
giữ không? Người lính nỡ
nụ cười: - Em xin lỗi, em cố giữ
như lời Thiếu Tá dặn, nhưng
mấy anh em khuyên em ném nó đi, coi
chừng Thiếu Tá nóng nảy làm
bậy, khổ cho gia đình. Tụi em thấy
mấy người du kích có vẻ
nể nang chúng ta, họ không dám làm
nhục Thiếu Tá và các vị sĩ
quan đâu. Loạng quạng tụi em bẻ
họng tụi nó hết! Khoảng 11 giờ
trưa, xã đội trưởng xuống
gặp Tiểu Ðoàn Trưởng, yêu
cầu tập trung binh sĩ để nhận
giấy chứng nhận cho ra về. Theo lời
Tiểu Ðoàn Trưởng, mọi người
kéo nhau xuống tập họp tại sân
xã. Tiểu Ðoàn Trưởng và
các Sĩ Quan nhận giấy rồi phát
lại cho anh em binh sĩ . Ðứng trước
anh em đang tập họp, Xã đội trưởng
VC nghiêm sắc mặt rồi nói: - Chính
phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền
Nam Việt Nam khoan hồng cho tất cả các
binh sĩ nguỵ về với gia đình.
Yêu cầu khi về địa phương
phải đến trình diện chính quyền
Cách Mạng. Các sĩ quan cấp úy
cũng sẽ được ra về nội
trong chiều nay. Riêng sĩ quan cấp Tá
sẽ được chuyển lên Ủy
Ban Quận quyết định. Ai nhận giấy
tờ xong bây giờ có thể
ra về! Xã Ðội Trưởng dứt
lời, đưa mắt nhìn anh em binh
sĩ. Anh em vẫn đứng yên, mắt
hướng về những người
chỉ huy cũ chờ đợi. Tiểu
Ðoàn Trưởng bước đến
trước anh em nhưng miệng như không
thốt ra được lời nào.
Một phút rồi hai phút, bỗng trong
hàng quân có tiếng khóc. Tiểu
Ðoàn Trưởng ứa nước
mắt. Anh em ứa nước mắt.
Tiểu đoàn trưởng nói và
chớp chớp đôi mắt để
làm khô nhanh hạt lệ đang ứa
ra. - Ô kìa, sao lại... Anh em! Từ trước
đến nay tôi chưa bao giờ thấy
một anh em nào khóc, ngay cả khi chứng
kiến sự hy sinh của bạn mình. Bây
giờ hết chiến tranh rồi, hết
chết chóc rồi, anh em sẽ ra về
xây dựng cuộc đời mới,
sống hạnh phúc với gia đình
vợ con thì tại sao lại làm như
đàn bà thế, phải vui cười
lên chứ. Cười như tôi
đây này! Tiểu Ðoàn Trưởng
nói và cố mỉm cười. Cái
mỉm cười lạ lùng nhất mà
mọi người chưa bao giờ thấy.
Anh em mỉm cười theo, có người
cười thành tiếng nhưng vẫn
có người còn sụt sùi.
"TÐ 3/48 chưa bao giờ bại trận, ngay
cả bây giờ cũng vậy, không
được tỏ ra yếu đuối
trước họ, không thể để
họ xem thường tinh thần người
lính miền Nam". Tiểu Ðoàn Trưởng
nói thầm với mình rồi quét
đôi mắt sáng đầy cương
quyết nhìn mọi người. Tiểu
Ðoàn Phó Nguyễn Mạnh Tông gật
đầu nhận hiểu. Anh em nhận hiểu
như đã nhiều lần nhận hiểu
khi nghe cấp chỉ huy mình nói trước
giờ xuất quân . - Bây giờ
anh em có thể ra về, nhưng hãy trả
lời tôi trước khi chúng
ta chia tay! Tiểu Ðoàn Trưởng chống
hai tay vào hông, một cử chỉ quen
thuộc mỗi lần đứng trước
hàng quân. -Tất cả! Ngồi... - Xuống!
- Ðứng... - Dậy! Cả ba trăm người
trả lời cùng với động
tác ngồi xuống và đứng
dậy một lượt, âm thanh hùng
hồn vang động làm rung rinh tâm hồn
những cán binh VC và đồng bào
có mặt khiến họ đều nhất
loạt vỗ tay. Khi mọi người bắt
tay nhau từ giả, Tiểu Ðoàn Trưởng
quay qua hỏi trung sĩ Lê Văn Tạo:
- Ngoài anh Tạo biết
gia đình Sơn, còn có ai biết
nữa không?
- Chỉ một mình
em biết thôi, em đã chuẩn bị
tất cả rồi, xác Sơn đã
được đưa lên xe lam, chốc
nữa em sẽ đưa Sơn về nhà
cho gia đình Sơn!
Giọng Tạo thật
buồn và anh nói tiếp:
- Nó cố giữ
cái máy truyền tin nên bị hụt
cẳng khi qua sông, em kêu nó buông
cái máy ra mà nó không chịu
nghe... Ðánh nhau không chết bây giờ
lại chết, may mà sáng nay xác nỗi
lên còn không thì ... - Có mấy
trăm đây, em lấy mà trả tiền
xe! - Thưa Thiếu Tá không, người
chủ xe lam không lấy tiền! Sơn ơi!
Cái chết của em đau lòng mọi
người lắm, nhưng em sẽ bất
tử trong lòng anh em bởi vì tất
cả chúng ta không ai quên được
những giờ phút Tiểu Ðoàn
lội qua sông để mong đến với
Sài Gòn đang kêu cứu.
* * *
Gã tù binh đứng
như trời trồng giữa buổi
trưa ngày cuối tháng tư nắng
gắt. Gã nhắm mắt lại, tai nghe lao
xao những lời từ giả. Tay
gã muốn cử động khi có
bàn tay ai nắm chặt nhưng bàn tay gã
như khô đi và cứng ngắt.
Gã đứng đó và thấy
một dòng sông đang chảy xiết
với hình ảnh những người
lính vội vã lội qua sông. "Sơn
ơi! Sao em không chịu buông cái máy
truyền tin, còn giữ nó làm
chi trong giờ phút sau cùng khi không
còn gọi được một ai, không
nghe ai gọi mình!" Hởi con sông đang
chảy xiết và sẽ chảy mãi
trong trái tim đau đớn của ta!
Ta làm sao quên dòng chảy ào ạt
của ngươi đã nhận chìm, cuốn
trôi đôi tay người lính
đang nâng chiếc máy truyền tin lên
cao, lên cao. Hởi người lính
muốn qua sông về với Sài Gòn
mà chưa qua được! Anh vẫn
thấy đôi mắt em hướng
về Thủ Ðô buổi sáng 30 tháng
Tư. "Ngày xưa khi anh mở mắt chào
đời, Mẹ yêu, theo gương người
trước chọn lời,... đặt
tên cho người nặng tình yêu
nước vào nôi ( Phạm Duy). Không
biết con sẽ hát bài ca này bao
nhiêu lần trong cuộc đời lưu
lạc Mẹ ơi!...
Nguyễn phúc Sông Hương
* (Các danh xưng
anh Ba, anh Tư, anh Năm ... mà Sĩ quan Tiểu
đoàn 3 dùng từ khi thiếu Tá
Phương (anh hai) còn làm Tiểu Ðoàn
Trưởng năm 1972, lúc đó
Tiểu Ðoàn Trưởng hiện tại
là Tiểu đoàn Phó, là anh
ba)
Ghi chú của
nhóm chủ trương:
Sau khi SÐ18 được
lệnh bỏ trống mặt trận Long Khánh
và rút về ven biên Sài Gòn,
không có một tin tức, văn bản
hay báo chí nào nói đến cuộc
chiến đấu bi hùng và tuyệt
vọng của những người lính
VNCH trong những ngày hấp hối sau
cùng của miền Nam. Ðọc "Người
Lính Chưa Qua Sông", chúng ta như sống
lại những ngày bi tráng và đau
thương của quân lực. Nó là
truyện thực, là vết tích của
lịch sử bị bỏ quên, và
nó đã sống lại trong tập truyện
này.
|