Một
đề nghị hữu lý của Ô.
Nguyễn Thanh Giang
Phạm Trương Long
Quá khứ không
thay đổi được
The Past is Prologue
(danh ngôn)
Trong bài viết về CSVN nhượng
đất, biển cho Trung Cộng đề
ngày 19/5/2002, Ô. Nguyễn Thanh Giang, nhà
trí thức phản kháng trong nước,
đưa ra đề nghị rất hợp
lý là phải xây một đài
kỷ niệm để vinh danh những chiến
sĩ (Quân Lực VNCH) đã hy sinh trong
trận chiến bảo vệ quần đảo
Hoàng Sa chống quân xâm lược
Trung Cộng vào tháng 1 năm 1974. Ðề
nghị này mang một ý nghĩa lớn,
nhất là nó xuất phát từ
cái nhìn vô tư đứng đắn.
Ô. Nguyễn Thanh Giang là trí thức
trong nước sống dưới chế
độ miền Bắc thời kỳ
chiến tranh VN, không thể vu vạ ông
có cái nhìn của "đám tàn
dư phản động nuối tiếc chế
độ miền Nam" được. Nhưng
quan trọng hơn là nó cho thấy nhu cầu
khẩn thiết phải trả sự thật
cho lịch sử và ngăn chận mối
nguy hại to lớn cho dân tộc nếu
để CSVN tiếp tục bưng bít, đánh
tráo lịch sử như họ đã
làm từ trước đến
nay nhằm phục vụ giai đoạn cho đảng
và quyền lợi ngoại bang. Bài
học Chiến tranh VN còn đó. Với
chiêu bài lừa mị chống Mỹ
cứu nước, giải phóng miền
Nam, CSVN đã xô đẩy cả nước
vào cuộc huynh đệ tương tàn
vô nghĩa, ngút ngập hận thù để
rồi nói như tác giả Nguyễn
Minh Cần, toàn dân tộc là kẻ
chiến bại. Bài học mới không
kém ê chề đau xót là việc
dâng đất, biển cho Trung Cộng hiện
nay. Từ những sự kiện xảy
ra tới việc ký kết 2 Hiệp định
biên giới 30/12/1999 và 25/12/2000, lịch
sử hoàn toàn bị bưng bít.
Người dân không được
biết nội dung cuộc mua bán đổi
chác bỉ ổi này. Họ không được
biết đến chính lịch sử
của mình.
Dân tộc và lịch
sử
Một sự kiện (hoặc
nhân vật) lịch sử có thể
được nhìn hoặc đánh
giá nhiều cách khác nhau. Nhưng sự
kiện đó phải được ghi
lại trung thực, vô tư và đầy
đủ. Vo tròn bóp méo, trí trá
gian lận lịch sử cuối cùng cũng
không đánh tráo được
sự thật, chỉ dìm giá trị cả
dân tộc, tạo mặc cảm hoặc cho thấy
dân tộc đó bất xứng với
lịch sử của chính mình.
Dân tộc nào cũng
có những trang sử đen tối,
thậm chí nhơ nhuốc ô nhục. Ðức
có vụ tàn sát người Do
thái (Holocaust) dưới chế độ
Ðức Quốc xã, Pháp có
chính phủ Vichy v.v. Nhưng không vì thế
mà có thể che dấu hoặc né
tránh những trang sử này. Sự
thật lịch sử không thể chối
bỏ được. Chính những
trang sử này là những bài
học quý giá. Chúng giúp tránh
sự tái diễn cũng như dùng
làm thước đo giá trị một
dân tộc, cho thấy dân tộc đó
sống với lịch sử của chính
mình như thế nào, chân thật hay
trí trá.
Ngay các dân tộc văn
minh tiến bộ như Ðức, Nhật
Bản cũng không thoát khỏi khuất
tật đánh tráo và trí trá
lịch sử. Hoặc cố tình hoặc
tiềm ẩn trong thâm tâm. Người
Ðức đã phải thừa
nhận những tội ác chế độ
Ðức Quốc xã (1933-45) gây ra,
từ chiến tranh xâm lược toàn
cõi Châu Âu đến việc sát
hại hơn 6 triệu người Do thái,
là những trang sử xấu xa của
dân tộc họ. Năm 1970, Thủ tướng
Ðức thời bấy giờ
là Ô. Willy Brandt, trong cuộc viếng thăm
thủ đô Ba Lan, đã quỳ xuống
trước đài tưởng niệm
cuộc nỗi dậy của tù nhân ở
Warszawa bị lính Ðức quốc xã
tàn sát dã man, nhân danh dân Ðức
nhận lỗi cùng tất cả các nạn
nhân Ðức quốc xã. Hình
ảnh này được truyền đi
khắp thế giới và cử chỉ
này được thế giới
ngưỡng phục. Một tờ báo
Ý viết: "Ông quỳ xuống, và
qua đó ông đã nâng cao phẩm
giá của dân tộc ông."
Lối suy nghĩ thích đáng
này giúp người Ðức
thoát khỏi tình trạng bị quá
khứ thời Hitler giam hãm và
hội nhập bình thường trở
lại với cộng đồng thế
giới. Nhưng không phải mọi người
Ðức đều dứt khoát
tư tưởng như Ô. Brandt. Một số
trong thâm tâm vẫn muốn thoát khỏi
gánh nặng lương tri này. Họ không
thoát được, vì tiếng nói
lương tri của người Ðức
vẫn mạnh hơn. Ô. Helmut Kohl (Thủ Tướng
Ðức từ 1982 đến 1998) chỉ
một lần cho rằng ông có cái
may mắn là kẻ hậu bối (tức
không trực tiếp liên quan đến
tội ác Ðức quốc xã gây
ra) liền bị chỉ trích dữ dội
là muốn trốn tránh trách nhiệm
tinh thần về quá khứ lịch sử.
Nhà văn nổi tiếng Ðức,
Ô. Martin Walser, vào dịp lãnh giải
văn học ở Ðức năm
1998 đã gây một cuộc tranh cãi
găy gắt khi ông phát biểu rằng
bản thân ông không muốn nghe nhắc
nhỡ quá nhiều tới tội
lỗi và trách nhiệm về quá
khứ Ðức Quốc xã. Cuộc
tranh cãi đến nay có dịp vẫn
còn bộc phát, chưa chấm dứt
hẳn. Ða số những người
lên tiếng, trong đó có cả
2 cựu Tổng Thống Ðức, ÔÂ.
Weizsaecker và Herzog, cũng như nhiều trí
thức, nhân vật uy tín trong xã
hội... không đồng ý với
cách nhìn của Ô. Walser. Những
cuộc tranh cãi này cho thấy tâm tư
thầm kín của người Ðức
trước thử thách tinh thần
rất cam go, nhưng cũng cho thấy là
lương tri họ không chấp nhận việc
đánh tráo lịch sử. Người
Ðức đã chấp nhận trách
nhiệm tinh thần về quá khứ và
cộng đồng thế giới, kể
cả người Do thái và những
kẻ thù một thời khác, đã
chấp nhận họ. Tội ác có thể
tha thứ, nhưng không được
quên.
Người Nhật, trái
lại, vẫn còn trí trá với
lịch sử. Cho đến nay họ vẫn
chưa chịu nhận trang sử nhơ nhuốc
qua những tội ác họ gây ra cho
các dân tộc Triều Tiên, Mãn
Châu và Trung Hoa vào tiền bán thế
kỷ 20. Họ đã phạm những
tội ác man rợ như thí nghiệm
chất độc hóa học hoặc cấy
vi trùng gây bệnh truyền nhiễm vào
hàng ngàn người khỏe mạnh,
bắt phụ nữ làm nô lệ tình
dục cho lính Nhật... Sách giáo khoa
Nhật vẫn không nói đến những
tội ác của quân đội Nhật
Hoàng ở những cựu thuộc
địa của họ như Triều Tiên,
Ðài Loan hoặc những nơi họ
chiếm đóng như Mãn Châu, những
tỉnh ven biển Trung Quốc v.v. Hai Chính phủ
Trung Cộng và Nam Hàn đã nhiều
dịp nhắc nhở đến trách
nhiệm về những tội ác người
Nhật gây ra trong quá khứ và
chờ đợi người Nhật
chính thức xin lỗi. Nhưng cho đến
nay Nhật vẫn tránh né và chưa
chịu đáp ứng thỏa đáng.
Do đó, tuy Nhật Bản là một cường
quốc kinh tế nhưng về ngoại giao vẫn
phần nào bị vết nhơ quá khứ
giam hãm. Thế giới, đặc biệt
là các nạn nhân một thời
như Nam Hàn, Trung Quốc, Ðài Loan,
vẫn chưa chấp nhận hẳn người
Nhật và ngược lại, người
Nhật đi đâu trên thế giới
cũng mang mặc cảm về vết nhơ
quá khứ này. Như Nhật Hoàng
chẳng hạn, đi đâu ra ngoài nước
Nhật cũng sợ bị chống đối.
Ðó là cái giá
người Nhật phải trả vì họ
trí trá với lịch sử.
Sự thật cho lịch sử
VN
Người Nhật dối
trá với lịch sử chẳng
qua là tự dối mình. Họ có
dân chủ và không bị ai dối
gạt. Tuy có thương tổn đến
giá trị đạo đức nhưng
họ có thể sống với sự
dối trá đó. Ngoài cái nhìn
thiếu thiện cảm của thế giới,
sự thiệt hại cũng giới hạn
và nhìn thấy được. Nhưng
đối với VN, sự đánh
tráo lịch sử của đảng CSVN
tai hại về mọi mặt cho dân tộc.
Ngoài những mất mát về tinh
thần, nó là nguyên nhân những
thảm họa lớn cho đất nước
trong hơn nửa thế kỷ qua. Nó có
thể còn đe dọa sự tồn vong
dân tộc và nguy cơ này còn tiếp
diễn bao lâu đảng cộng sản còn
cầm quyền.
Tuy một số dối trá
của CSVN đã bị bóc trần, nhưng
tấm màn che đậy lịch sử
bị bóp méo lâu ngày vẫn còn
dày đặc. Việc nhận chân được
đúng sai đòi hỏi thời
gian, ngay trong điều kiện bình thường
cũng có khi cả một hai thế hệ.
Người ta còn nhớ tháng
11/2000 khi TT Mỹ Bill Clinton viếng thăm Việt
Nam, thanh niên Hà Nội, Sài Gòn nao
nức đứng chật đường
để tiếp đón. Mới ngày
nào là tên sen-đầm đế
quốc phải đánh cho nó cút,
nay lại được ái mộ, hăm
hở nồng nhiệt tiếp đón,
người dân đã lột trần
dối trá của cộng sản về Mỹ
cũng như những gian dối lịch sử
của cộng sản về chiến tranh Việt
Nam trước đó. Việc trả lại
sự thật về chiến tranh VN cho lịch
sử có hệ thống đòi hỏi
nhiều thời gian và công sức
hơn, chí ít cũng một thế hệ
nữa, nếu nghiêm chỉnh khởi
đầu ngay từ bây giờ.
Một số dối trá
khác vẫn chưa được làm
sáng tỏ, như trường hợp
những gì xảy ra giữa VN và
Trung Cộng từ chiến tranh biên giới
Việt-Hoa 1979 đến nay. Những sự
thật đau xót dần dà được
phơi bày ra ánh sáng cho thấy khi
để đảng CSVN lừa đảo,
bưng bít, độc quyền vo tròn bóp
méo lịch sử, dân tộc VN phải
trả giá rất đắt, không những
trước mắt mà còn cho cả
tương lai lâu dài. Việc mất đất
và lãnh hải chẳng hạn, thế
hệ tương lai có thể sẽ phải
trả giá bằng máu để khôi
phục lại. Khi người dân không
biết được đâu là
sự thật, vận mệnh họ cũng như
quyền lợi tổ quốc phải phó
mặc cho một thiểu số cầm quyền.
Họ đứng ngoài lề lịch
sử.
Hiện nay những dối
trá lịch sử nhằm phục vụ
giai đoạn của CSVN đang quật lại
họ trong vấn đề mất đất.
Việc làm lén lút mờ ám
cho thấy họ không còn khả năng
bóp méo lịch sử để lừa
đảo người dân nữa.
Càng nhục nhã thảm hại hơn là
lịch sử giữa CSVN và Trung Cộng
vốn đã trí trá nay lại bị
chính đám đồng chí lãnh
đạo Bắc Kinh bắt sửa lại.
Tức phải đánh tráo lần
nữa. Chịu nhục và mất mát
cuối cùng vẫn là dân tộc VN.
Nhưng không vì thế mà nguy cơ
tham vọng Bắc Kinh giảm đi.
Trở lại với
đề nghị Ô. Nguyễn Thanh Giang. Việc
vinh danh các chiến sĩ đã hy sinh
trong cuộc chiến bảo vệ Hoàng Sa thật
ra chỉ là phần khởi đầu.
Nhưng là phần khởi đầu
khẩn thiết. Bao lâu lịch sử VN
chưa được sáng tỏ, người
dân không rõ đâu là sự
thật, vận mệnh dân tộc sẽ còn
phó thác cho rủi ro chịu nhiều nguy
cơ lớn không lường trước
được.
Ngoài việc làm sáng
tỏ lịch sử chiến tranh VN cũng
như vai trò thừa sai của CSVN đối
với cộng sản Nga và Tàu (trước
và sau chiến tranh VN), bao nhiêu trang sử
tội ác đẫm máu của CSVN cũng
phải được trung thực nói
lên cho các thế hệ tương lai. Chỉ
nội việc những tội ác "Mỹ
Ngụy" được bảo lưu và
truyền bá trong khi những tội ác
man rợ khác của chính Việt cộng
như những cuộc thảm sát thường
dân vô tội kể cả trẻ em học
sinh ở Cai Lậy, Huế, chính sách
tập trung cải tạo nhân viên và
binh lính chính quyền miền Nam sau 1975...
không hề được nói tới
cũng đã là một trọng tội
gian dối với lịch sử dân
tộc rồi.
Lịch sử chính là
gốc gác con người, không thể
chối bỏ, man khai hay bưng bít được.
Dòng lịch sử vốn vạn đại,
không thể cắt ra một giai đoạn
để rồi tùy tiện diễn giải
chủ quan, thêm bớt như CSVN đã
và đang làm. Trách nhiệm của
mọi người Việt chân chính,
không phân biệt hải ngoại hay trong nước,
quá khứ, Nam hay Bắc, vì thanh danh
cũng như lợi ích lâu dài
của dân tộc, là phải làm sáng
tỏ những trí trá lịch sử
của CSVN. Dân tộc VN sẽ không bao giờ
ngang tầm với thời đại
bao lâu còn phải sống với lịch
sử không trung thực của chính
mình.
Ðề nghị của Ô.
Nguyễn Thanh Giang là một điều nhắc
nhở cần thiết. Lương tri không
cho phép chúng ta trốn tránh trách
nhiệm và giao khoán việc trả sự
thật cho lịch sử cho các thế hệ
tương lai. Chúng ta sẽ có tội
với mai hậu. Nói như nhà thơ
Nguyễn Chí Thiện:
Chúng sẽ có
quyền nguyền rủa lũ ông cha.
Vì Ấu trĩ (1975)
Phạm Trương Long
|