Nạn
Kỳ Thị Của Bắc Cộng
Vạng
Lộc
Trước
khi miền Nam bị chiếm cứ, do tuyên
truyền nhồi sọ, dân miền Bắc
cứ tưởng đồng bào
của mình ở trong Nam bị bọn đế
quốc bóc lột, nghèo xơ nghèo
xác đến độ không có
bát chén để ăn cơm. Dến
khi không thể tiếp tục bưng bít
kiểu lấy thúng úp voi nữa,
người dân miền Bắc nhận
ra tình trạng thực tế hoàn toàn
trái ngược, miền Nam phồn thịnh
hơn hẳn miền Bắc, mức sống
nhân dân miền Nam vượt trội
hẳn mức sống đồng bào
miền Bắc, ai cũng mong muốn được
"xuất ngoại" vào Nam để viếng
thăm hay sinh cơ lập nghiệp.
Nhưng
chuyện đâu có dễ dàng như
tuyên truyền hay mơ tưởng một
cách ngây thơ "khi đất nước
tôi thanh bình, tôi sẽ đi thăm
... tôi sẽ đi không ngừng, Sài
Gòn ra Trung, Hà Nội vô Nam, tôi đi
chung cuộc mừng, và mong sẽ quên
chuyện non nước mình ...", sơ khởi
chỉ có những thành phần đáng
tin cậy hay tưởng thưởng công
lao mới được phép vào
Nam, dĩ nhiên trong số đó có
đám con ông cháu cha, chúng lũ
lượt kéo vào miền Nam để
tha hồ vơ vét một cách tự
nhiên đến độ dân chúng
miền Nam tưởng đó là đặc
tính của dân miền Bắc: "tự
nhiên như người Hà Nội".
Sau ngày
30-4-75, phất phơ được mấy
tháng đầu, lá cờ Mặt
trận giải phóng miền Nam âm thầm
nhường chỗ cho lá cờ đỏ
sao vàng, nói rõ hơn là thành
phần Nam cộng bị khai tử không
cần văn tự. Từ đó,
hiện tượng Bắc cộng xâm nhập
miền Nam đã được một
số người đề cập tới
như học giả Nguyễn Hiến Lê:
- "Năm
1975 đa số cán bộ, công nhân
viên ở Bắc vào thăm gia đình,
họ hàng trong Nam, còn giữ chút
thể diện ''cách mạng'', bà con trong
này tặng họ gì thì họ nhận,
chứ không đòi; về sau họ
không giữ kẽ nữa, tặng họ
một thì họ xin hai, không tặng họ
cũng đòi, khiến ông bạn tôi
bực mình, nhất định đóng
cửa không tiếp một người
bà con, bạn bè nào ở Bắc
vào nữạ" (Hồi kí Tập III,
tr 91 [Nhà xuất bản Văn Nghệ])
- " Người
Bắc coi người Nam là ngụy, đối
xử với người Nam như
thực dân da trắng đối với
dân ''bản xứ'', tự cao tự
đại, tự cho rằng về điểm
nào cũng giỏi hơn người
Nam, đã thắng được Mĩ
thì cái gì cũng làm được."
(Hồi kí Tập III, tr 104 [Nhà xuất
bản Văn Nghệ])
Bây
giờ thì hiện tượng Bắc
cộng xâm nhập miền Nam đã quá
lộ liễu rồi, người dân
bình thường nào cũng nhận
thấy, họ hiện diện trong mọi cơ quan,
ngành nghề, từ thành thị tới
tận thôn quê, từ đồng bằng
đến cao nguyên trong các vai trò
then chốt và quyết định, thậm
chí họ còn "mang hia đội mão"
đại diện cả nhân dân một
số vùng "thâm sơn cùng cốc",
nói theo danh từ hiện nay là "vùng
sâu, vùng xa", những nơi mà chắc
không mấy khi họ đặt chân tới
như một số chức sắc quan trọng
liệt kê dưới đây:
- Bộ
trưởng y tế Dỗ Nguyên Phương
gốc Hà Nội, đại diện cho dân
Dồng Xoài, Bù Dăng (Bình Phước)
.
- Bộ
trưởng nông nghiệp Lê Huy Ngọ,
người Hà Nội đại biểu
đồng bào thiểu số cao nguyên
Krông Bông, Krông Pắc (Darlac).
- Bộ
trưởng tư pháp Uông Chu Lưu,
gốc Hà Tĩnh, vào tận Sóc Trăng
ứng cử.
- Tổng
thanh tra nhà nước Tạ Hữu
Thanh, gốc Phú Thọ đại diện cho
dân Mang Thít, Vũng Liêm (Vĩnh Long)
.
- Tổng
giám đốc kho bạc Ðặng Văn
Thanh, gốc Hà Nam đại biểu quốc
hội huyện Thốt Nốt, Ô Môn (Cần
Thơ).
- Vụ
trưởng bộ Lao động Ðặng
Như Lợi, gốc Hà Tĩnh, thường
trú ở Hà Nội lại đắc
cử ở Ðầm Dơi (Cà
Mau).
- bà
Ðại sứ ở Bỉ Tôn Nữ
Thị Ninh, gốc Huế đang sống ở
ngoại quốc lại đại diện cho dân
quê vùng Xuyên Mộc, Long Ðức
(Bà Rịa).
- Ðinh
La Thăng, Chủ tịch Hội đồng quản
trị xây dựng sông Ðà, gốc
Hà Nội thay mặt dân thiểu số
Chư Prông, Chư Sê (Pleiku).
- Lê
Quang Bình, gốc Hà Nội, Phó chủ
nhiệm Ủy ban quốc phòng và an ninh
quốc hội đại biểu cho đồng
bào thiểu số Ðăk Tô, Dắk
Glei (Kontum), ...
Trên
đây không phải là một số
trường hợp đơn lẻ, nếu
kiểm điểm toàn bộ thành phần
498 đại biểu quốc hội gồm 240
đại biểu cho dân miền Bắc (từ
Quảng Bình trở ra) và 258 thuộc
các tỉnh từ Quảng Trị trở
vào: có 55 nhân vật gốc Bắc
đắc cử ở miền Nam, chiếm
tỷ lệ 21 % (55/258) trong khi chỉ có 4 nhân
vật gốc Nam (*) đắc cử ở
miền Bắc, chiếm tỷ lệ 2 % (4/240).
Riêng
2 thành phố lớn tiêu biểu cho
2 miền, Sài Gòn có 6 đại biểu
gốc Bắc trên tổng số 26, chiếm
tỷ lệ 23 % trong khi Hà Nội chỉ có
1 đại biểu gốc Nam trên tổng
số 21.
Ðặc
biệt mức độ xâm nhập Bắc
cộng rất cao ở một số tỉnh
miền Nam, tỷ lệ cao nhứt là 50
% ở các tỉnh Khánh Hòa, Bình
Phước, Kontum, kế đến Darlac
(40 %), Lâm Ðồng (38 %), Cà Mau (29 %), Ðồng
Tháp và Tiền Giang (22 %).
Nhìn
qua số Ủy viên trung ương đảng
trong Quốc hội, trong số 86 ứng cử
viên đều đắc cử có
59 Bắc cộng, chiếm tỷ lệ 68 % (59/86),
nếu tạm coi đó cũng là tỷ
lệ chung cho tổng số 150 Ủy viên trung
ương thì rõ ràng Nam cộng bị
Bắc cộng lấn át hẳn, nói
cách khác là thành phần Nam cộng
không đáng tin cậỵ
Nạn
kỳ thị Bắc Nam lại càng thể
hiện rõ hơn nữa trong thành phần
chính phủ, kể từ hàng Bộ
trưởng trở lên gồm 30 người,
trong số 25 người kiểm chứng
được gốc gác có 19 người
miền Bắc, 6 người miền Nam,
Bắc cộng chiếm 76 % (19/25). Cũng trong thành
phần nội các này, có 23 người
là đại biểu quốc hội gồm
17 Bắc và 6 Nam, không có Bộ trưởng
Nam nào ứng cử ở miền
Bắc trong khi có 8 Bộ trưởng Bắc
đắc cử ở miền Nam, họ
xâm nhập vào tận các tỉnh xa xôi
như Darlac (Lê Huy Ngọ), Bình Phước
(Dỗ Nguyên Phương), Sóc Trăng
(Uông Chu Lưu), Dồng Tháp (Bộ trưởng
quốc phòng Phạm Văn Trà).
Những
dữ kiện trên xác minh một thực
tế phũ phàng, khác hẳn những
gì guồng máy tuyên truyền thường
rêu rao là phân phối đồng
đều quyền hạn lãnh đạo
đất nước cho Việt cộng thuộc
ba miền Nam Trung Bắc, kỳ thật Bắc
cộng đã lấn át Nam cộng, các
quyền hành phân chia chỉ có tính
cách biểu kiến để lòa mắt
thiên hạ, để xoa dịu tánh tự
ái hão của những tên Nam cộng
"mất gia phả".
Có
lẽ một thiểu số chịu hết nổi
nguy cơ này nên cố ngo ngoe như nhóm
Câu lạc bộ kháng chiến miền
Nam hay tiết lộ một vài tin mật như
thành phố Sài Gòn bị chèn
ép, không được tự do
phát triển như mong muốn là do tỷ
phần đóng góp quá cao cho trung
ương.
Hiện
thì Bắc cộng đã nắm thực
quyền chính trị, về mặt kinh tế
thì nhân dân miền Nam còn được
phần nào nới lỏng, nhưng thử
hỏi ân huệ này kéo dài bao
lâu nữả Biết bao gương tày
liếp còn sờ sờ đó:
- thuở
trốn chui trốn nhũi ở hang Cốc
Bó (xóm Pác Bó, Cao Bằng), nhờ
dân tộc thiểu số chở che thì
Hồ Chí Minh hứa cho họ hưởng
qui chế vùng tự trị,
- muốn
móc túi tiền của dân thì phát
động "tuần lễ vàng" (1945) kêu
gọi các nhà giàu có đóng
góp,
- lúc
cần ve vuốt giới nông dân thì
tung ra chính sách "cải cách ruộng
đất, người cày có ruộng",
- để
lừa mị thiên hạ thì tự
tuyên bố giải tán đảng Cộng
sản (1945),
- khi cần
được toàn dân ủng hộ
thì Hồ Chí Minh mời mọi đảng
phái gia nhập Chính phủ liên hiệp
(1946),
- muốn
xâm chiếm miền Nam thì dựng lên
các bình phong Mặt trận giải phóng
miền Nam, Chính phủ cách mạng lâm
thời miền Nam với các con rối
Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát,
Nguyễn Thị Bình, ..., tạo ra thành
phần thứ ba, ...
Trăm
lần như một, một khi gom trọn quyền
hành thì Bắc cộng trở lại
nguyên hình là phường "ăn
cháo đái bát".
Với
đà xâm thực này thì vài
ba nhiệm kỳ quốc hội nữa, Bắc
cộng sẽ đại diện cho toàn miền
Nam, lần hồi dân miền Nam sẽ làm
tôi mọi cho đám tư bản đỏ
Bắc cộng chẳng khác nào dân
mộ phu các đồn điền Cờ
Ðỏ, Lộc Ninh, Hớn Quản của
mấy chủ nhân ông da trắng thời
thực dân, xin nhớ là đồng
bào miền Bắc chẳng hưởng
lợi lộc gì mấy trong cuộc xâm
thực này mà chỉ có các
quan lại miền Bắc cùng thân bằng
quyến thuộc của họ hưởng gần
như trọn gói.
Trước
quốc nạn nầy, xin đừng chờ
đến lúc hết chịu đựng
nổi mới chống đối để
mang tiếng kỳ thị Bắc Nam, hoặc giả
là sẽ đi đến tình trạng
dân tộc phân ly vô phương hàn
gắn. Thời gian là kẻ thù thâm
độc, nếu không phản ứng
kịp thời thì dân miền Nam sẽ
không kịp hối.
Phải
chăng đã đến lúc đất
nước cần một quy chế mới
như hình thức "bang liên", mọi miền
đều có quyền quản trị nội
bộ một cách rộng rãi, chấm dứt
tình trạng xâm thực kỳ thị
hiện nay.
Ðây
là một nan đề cần được
các bậc thức giả quan tâm.
Vạng
Lộc, 9-2002.
(*) chỉ
có 4 trường hợp được
ghi nhận là:
Họ
tên
Tôn
Thất Bách
Nguyễn
Văn Chi
Ðào
Văn Hưng
Trần
dức Lương |
Chức
vụ
Hiệu
trưởng Ðại học y khoa Hà Nội
Trưởng
ban bảo vệ chính trị TƯ
Tổng
giám đốc Cty điện lực Ðà
Nẳng
Chủ
tịch nước |
Sinh
quán
Huế
Ðà
Nẳng
Ðà
Nẳng
Quảng
Ngãi |
Trú
quán
Hà
Nội
Ðà
Nẳng
Hà
Nội
Hà
Nội |
Ðắc
cử tại
Hà
Nội
Hà
Tây
Sơn
La
Hải
Phòng |
|