(14/06/2002/Internet)
Lời giới
thiệu: Mặc dầu nhà cầm quyền
Việt Nam luôn luôn luôn nói tới
những lực lượng thù nghịch
từ bên ngoài, nhưng sau vụ lời
qua tiếng lại giữa Trung Quốc và
Việt Nam về vụ Trung Quốc thao diễn
quân sự trong vịnh Bắc Bộ, người
ta có cảm tưởng như Việt Nam
gặp khó khăn từ nước
bạn đàn anh nhiều hơn là từ
những nơi khác. Mục "Việt Nam, Nhìn
từ bên ngoài" hôm nay có bài
nhận định sau đây của Trần
Sơn Nam...
Cuối tuần vừa
qua, ngày 8 tháng 6, đài phát thanh
Quảng Châu đã loan báo là
Trung Quốc có cuộc thao diễn quân
sự bắn đạn thật tại vùng
biển
Nam Trung Hoa, do đó
cấm tầu bè qua lại ở một
số khu vực thuộc vùng biển nằm
sát ngay với vịnh Bắc Bộ, thuộc
lãnh hải Việt Nam. Cuộc thao diễn này
được thông báo là chấm
dứt vào ngày 13 tháng 6.
Thao diễn quân sự
trên mặt biển là chuyện thường
có và ngay cả trường hợp
thử nghiệm vũ khí bằng đạn
thật, người ta cũng đã
từng thấy. Trường hợp
cụ thể nhất mà mọi người
có thể nhớ lại là trường
hợp cách đây một vài năm
Trung Quốc đã có những cuộc
tập trận bằng đạn thật ngoài
khơi Ðài Loan trên đường
vào hải cảng Cao Hùng của đảo
này. Nhưng ngày đó, ngoài mục
đích quân sự nhà cầm quyền
Hoa Lục còn có mục đích chính
trị là đe dọa và uy hiếp Ðài
Loan để giới lãnh đạo
đảo này từ bỏ chủ trương
độc lập, tìm cách tách rời
khỏi lục địa. Còn ngày nay với
vụ thao diễn quân sự và việc
cấm tầu bè qua lại trong 5 ngày tại
vùng biển nằm ngay giữa đảo
Hải Nam và bờ biển Việt Nam,
ngoài mục đích quân sự thông
thường, Trung Quốc còn có mục
đích nào khác không?
Ðiều đặc
biệt đáng để ý ở
đây là nhìn vào bề ngoài
và dựa vào những lời
tuyên bố của giới lãnh đạo
Bắc Kinh và Hà Nội, luôn luôn
ca tụng "tình hữu nghị thắm thiết
giữa hai Ðảng và hai Nước"
thì mối quan hệ giữa hai bên chắc
chắn phải là tốt đẹp, đúng
với ý nghĩa của những
khẩu hiệu đã từng được
nêu cao như "láng giềng hữu nghị,
hợp tác toàn diện, ổn định
lâu dài, hướng tới tương
lai". Như vậy thì làm sao có thể
có chuyện đe dọa hay uy hiếp? Thế
mà chỉ hai ngày sau khi có tin loan báo
về cuộc thao diễn, người phát
ngôn của bộ Ngoại Giao Việt Nam là
bà Phan Thúy Thanh đã phải lên
tiếng nói rằng Việt Nam rất lo ngại
và quan tâm về sự việc đang
xẩy ra. Việt Nam chính thức cáo
buộc Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm
trọng chủ quyền của Việt Nam vì
trên thực tế những khu vực
cấm tầu bè qua lại gồm cả
những nơi lấn sâu vào vùng
biển và thềm lục địa của
Việt Nam. Ngoài ra, theo lời bà Phan
Thúy Thanh, Trung Quốc còn đe dọa
quyền tự do hàng hải của tầu
bè qua lại trong vùng biển Nam Hải,
do đó vi phạm quan trọng luật quốc
tế cũng như Công Ước 1982
của Liên Hiệp Quốc về luật biển.
Ðể đối đạp lại với
những lời cáo buộc nặng
nề này từ phía nước
bạn đàn em, ngày thứ ba 11 tháng
6 vừa qua, người phát ngôn
của Bắc kinh là bà Lưu Kiện Siêu
đã bác bỏ lời cáo buộc
của Việt Nam và cho đây là vô
căn cứ vì Trung Quốc thao diễn
quân sự trên vùng biển của
mình.
Sự việc như
trên đây được trình
bầy, nếu xẩy ra ở những
nơi khác, có thể được
coi như thông thường, tuy nhiên lúc
này trong trường hợp tranh chấp
giữa Việt Nam và Trung Quốc là
hai nước cùng một ý thức
hệ được coi như anh em, giới
quan sát quốc tế tỏ ra ngạc nhiên
về thái độ của nhà cầm
quyền Việt Nam qua những lời phản
đối và cáo buộc mạnh mẽ
mà Hà Nội đã đưa ra.
Thực ra, vấn
đề ở đây phải được
hiểu trong bối cảnh mối quan hệ phức
tạp giữa hai nước láng giềng
với một quá trình lên xuống
trải dài cả ngàn năm. Ngay trong lịch
sử cận đại có lúc hai bên
đã coi nhau như "sông liền sông,
núi liền núi, môi hở răng
lạnh" v.v.. nhưng cũng có lúc thì
lại đả phá nhau bằng những
lời lẽ xúc phạm như "bá
quyền hay bội ơn" rồi lại trở
lại "hữu nghị thắm thiết" như
trong hiện tại. Mới đây, chế
độ Hà Nội đã loan báo
là đã ký vào cuối năm
1999 một hiệp ước biên giới
trên đất liền với Trung Quốc
và một năm sau, cuối năm 2000, đã
ký hiệp định phân định
lãnh hải trong vịnh Bắc Bộ. Cả
hai văn kiện này, tuy mới chỉ
có một bản được phê
chuẩn, đã bị dư luận ở
trong nước và ngoài nước
cực lực lên án là đã
làm cho quyền lợi của dân tộc
Việt Nam bị thiệt hại lớn. Ðể
bào chữa cho sự nhượng
bộ này, cho đến nay lập luận của
chế độ là "trong tinh thần nhân
nhượng, Việt Nam cần phải tạo
môi trường hữu nghị" và
"đường lối của Ðảng
và Chính Phủ chúng ta hiện nay là
phù hợp với lợi ích
lớn nhất của dân tộc, tạo
không khí hòa bình, hữu nghị,
ổn định với các nước
láng giềng vì như vậy mới
tập trung được sức lực
để xây dựng phát triển".
Nhưng trên thực
tế mặt trái của vấn đề
không dấu được ai. Sức
ép của Trung Quốc quá mạnh. Tình
hữu nghị thắm thiết giữa
hai nước anh em chỉ là những
ngôn ngữ đầu môi. Trên
con đường gai góc bảo vệ
chủ quyền và quyền lợi của
dân tộc, qua những bản hiệp ước
và hiệp định đã được
ký kết trong hai năm liền 1999 và
2000, nhà cầm quyền Hà Nội đã
tỏ ra khiếp nhược thì bây
giờ có phản đối hay cáo
buộc Trung Quốc trong vụ thao diễn quân
sự nơi vùng biển kế cận với
vịnh Bắc Bộ thì cũng chỉ là
để trấn an dư luận ở trong
nước và ngoài nước
vốn sẵn đã nghi ngờ khả
năng chống đỡ của chế
độ trước sức ép của
những biến chuyển quốc tế.
Dầu sao việc thao diễn quân sự
tương đối còn là việc nhỏ.
Rồi đây đối với những
việc lớn hơn như những vấn
đề hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa, lập luận của nhà
cầm quyền là "cần phải tạo
môi trường hữu nghị và
ổn định" liệu có còn đứng
vững được nữa không?
Trần Sơn Nam