Tội
ác kinh người của cộng sản
Việt Nam: Thãm sát, lường gạt,
vàng, máu và nước mắt
của hàng vạn đồng bào không
đến được bờ tự
do trong những vụ cho đăng ký
vượt biên lấy vàng sau 1975
Hải Triều
(Trong
năm 2001, khi VC làm ồn ào vụ "Thanh
Phong và Bob Kerry" trên báo trong nước,
trên đài Hà Nội... để
bắt chẹt Mỹ trong nổ lực kiếm
đô la bồi thường và tuyên
truyền tội ác "đế quốc Mỹ",
vài ngày sau, chúng tôi đã
tung ra tài liệu về tội ác kinh người
của cộng sản Việt Nam trong vụ thảm
sát đồng bào ở xã Tân
Lập, Long Khánh ngày 22/4/1975 sau khi Sư
Ðoàn 18 BB được lệnh rút
bỏ vùng này.
Việc này xẩy ra khi các
sư đoàn Bắc quân của VC đã
tràn vào vùng bỏ trống, vướng
mìn claymore khi tiến vào Tân Lập,
bị chết thêm một số sau những
tổn thất nặng nề ở Long Khánh,
họ đã tàn sát hơn 50% dân
số của xã Tân Lập để
trả thù, trong số đó có cả
những gia đình có thân nhân
nhân theo VC. Vụ thãm sát kinh người
và dã man này bị chìm khuất
trong trong những biến động lịch
sử sau bức màn tre XHCN khi Sài
Gòn sụp đổ năm 75.
Bài viết trước
đây về vụ Tân Lập không
nhằm hóa giải tội của trung úy
Bob Kerry/ SEAl, nếu có, nhưng vụ Thanh Phong
chỉ là cái dịp để nhóm
NSVN đưa tội ác của CSVN về vụ
Tân Lập ra ánh sáng.
Vụ thảm sát ở
xã Tân Lập khi đưa lên các
diễn đàn toàn cầu, đã
được anh em ở Hoa Kỳ chuyển
ngữ sang tiếng Anh, gửi đi khắp
nơi... thì cái loa Phan Thúy Thanh của
bộ Ngoại Giao CSVN trên đài Hà
Nội bỗng im tiếng, và chuyện VC thuê
luật sư Mỹ kiện Bob Kerry về vụ
Thanh Phong để đòi tiền bồi
thường dường như cũng
chìm xuồng luôn. Cán bộ cộng
sản ở Hà Nội sau đó đã
email đến NSVN kết tội người
viết là tay sai đế quốc, đã
giúp làm nhẹ tội Bob Kerry..., nhưng điều
quan trọng mà chúng tôi ghi nhận không
phải là việc hăm dọa hay kết
tội người viết, mà là
Hà Nội không có lấy một dòng
chữ lên tiếng phủ nhận tội
ác của họ đối với đồng
bào. Hà Nội không thể gột rửa
tội ác của mình trong vụ thảm
sát ở xã Tân Lập bằng
vụ Thanh Phong mù mờ trong thời
kỳ chiến tranh ác liệt.
Trong muôn ngàn tội ác
kinh người của đảng cộng
sản Việt Nam, bài viết kế tiếp
sau đây là một trong những vụ
thảm sát phi nhân bị vùi chôn
trong dòng lịch sử bất hạnh của
dân tộc, và việc khai quật sự
thật về các loại tội ác này
là nhiệm vụ của lương tâm
và lịch sử, của bất cứ
ai, của bất cứ giai đoạn nào,
nếu dấu tích bị nhô ra khỏi
bóng tối. Không viết ra, âm khí
oan khuất của đồng bào nạn
nhân cứ như lờn vờn
trong ký ức. Người viết
chỉ làm nhiệm vụ của một người
Việt Nam còn một chút lương tri,
còn một chút đau đớn,
không chấp nhận để tội ác
của cộng sản chìm mất trong quên
lãng; viết và chấp nhận bất
cứ loại đòn thù nào,
đe dọa nào từ Hà Nội hay
từ các nhóm tay sai ở hải
ngoại của VC như đã từng
xẩy ra trước đây, và biết
đâu may ra nó đóng góp chút
gì cho tiến trình sụp đổ chế
độ cộng sản tại Việt Nam / Hải
Triều)
* * *
Vào bài
Trong dòng chiến sử
quốc cộng hơn 30 năm, mặt thực
của cộng sản Việt Nam được
ẩn kính dưới những huyền
thoại dệt từ bộ máy tuyên
truyền lừa bịp của chính đảng
csvn và phong trào cộng sản quốc tế,
vì đảng csvn là một trong những
mắc xích quan trọng của chiến lược
Ðông Á mà Mạc Tư Khoa xưa
rất cần cho chiến lược bành
trướng chủ nghĩa cộng sản
toàn thế giới. Huyền thoại
này được tô đen thêm
do tâm thức không tưởng mê
muội của nhiều người Việt
Nam về chiêu bài giải phóng dân
tộc, chiêu bài no cơm ấm áo,
chiêu bài xóa bỏ bất công,
chiêu bài công bình xã hội,
tự do dân chủ... mà người
cộng sản đã hứa hẹn, tuyên
dương... Ðộc lập dân tộc thực
ra chỉ là cái chiêu bài để
che dấu mục tiêu chủ nghĩa xã
hội mà Hồ Chí Minh đã nhồi
nhét vào đầu vô số những
người theo cộng sản kể từ
những ngày đầu của cuộc
kháng chiến chống Pháp, nó trở
thành bùa mê thuốc lú với
cái khẩu hiệu "yêu nước
là yêu chủ nghĩa xã hội". Thế
nhưng không bao lâu sau ngày Sài Gòn
sụp đổ, mặt thực của đảng
csvn, của chế độ Hà Nội đã
hiện hình, dần dần rõ nét,
kinh hoàng, man rợ, tráo trở,
dã man và phản trắc. Khi cả nước
bừng tỉnh, thì cả nước
đã bị nhốt vào chuồng người,
từ Nam tới Bắc, từ Cà
Mâu tới Nam Quan.
Vì ấu trĩ,
thờ ơ, u tối
Vì muốn an thân, vì
tiếc máu xương
Cả nước đã
qui về một mối
Một mối hận thù,
một mối đau thương
Hạnh phúc, niềm mơ,
nhân phẩm, luân thường
Ðảng tới là
tan nát cả...
(Nguyễn Chí Thiện/Vì
ấu trĩ)
Thực vậy, khi bức
màn tre xã hội chủ nghĩa phủ
chụp xuống, cả nước bị đẩy
vô tròng, một vòng oan nghiệt giăng
phủ cả hai miền Nam Bắc, người
ta rùng mình và tìm đường
tháo chạy, mấy cây cột đèn
bất hạnh đã không có chân
để ra đi. Năm năm đầu,
từ 1975 đến 1979, cả nước
phủ một mầu tang đói khổ, chiến
tranh hai đầu Nam (Cambodia) Bắc (biên giới
Hoa Việt) và áp bức, chết chóc,
tù tội từng ngày, từng
giờ, từng tiếng gõ cửa
ban đêm, từng giọi nước
mắt mẹ khóc con, vợ khóc chồng,
anh khóc em, tù đày, ly chia, chết
chóc...
Tại miền Nam, sau 1975, nhà
tù giăng mắc khắp nước,
mỗi sáng mở cửa ra, dường
như người dân ai cũng đối
diện với cửa nhà tù, gia
đình nào cũng có thân nhân
xa gần nằm trong tù. Ít có nơi
nào trên thế giới bị sống
trong quái trạng lạ lùng, đen tối
và bi đát này. Ngoài những
nhà tù chính hiệu, cộng sản dựng
lên vô số những trại tù
đủ loại dưới cái tên
trá hình là "trại cải tạo" để
giam hãm, trả thù những chiến
binh đối chiến bại trận. Ðiều
này không có trong bất cứ điều
khoản nào của công ước
quốc tế Geneve về tù hàng binh.
Hãy đọc mấy dòng báo Nhân
Dân tháng 6/1975:
"Cải tạo là một
diễn biến bền bỉ và lâu dài,
được quản lý chặc chẽ
và liên tục, chúng ta phải quản
lý từng cá nhân, quản lý
tư tưởng, hành động, lời
nói, cách sống của đối tượng,
của quân ngụy..."
Chính vì cả nước
biến thành một nhà tù vĩ đại
mà đồng bào, nhất là dân
ở miền Nam, ùn ùn tìm đường
thoát, bất kể ngày đêm, bất
kể sống chết. Thái Bình Dương
bỗng hẹp lại như dòng sông Dịch
in bóng Kinh Kha trước những chết
chóc, tù đày, đói khổ...trùng
trùng giăng mắc sau lưng với
hàng ngàn, hàng vạn đồng bào
bất hạnh len lách trong bóng đêm
để thoát ra biển rộng, họ không
làm thân Kinh Kha sang sông giết bạo
Tần, mà làm kẻ trốn chạy một
thứ bạo Tần, một chế độ
Tần tân thời bạo ngược,
nham hiểm và dã man có hệ thống
số một trong cộng đồng nhân loại:
Bên kia sông Dịch
dòng sinh tử
Tráng sĩ hề! Thân
trao núi sông
Một mối thù nung trên
mũi kiếm
Một xác thân nhẹ
tựa lông hồng.
Người nay hơn kẻ
qua sông Dịch
Cả triệu thuyền nhân
vượt biển Ðông
Sông Dịch, Kinh Kha còn
ngại sóng
Thái Bình Dương
người coi như không!
(lê khắc anh hào)
* * *
Bài viết này không
nói đến những vụ cộng sản
giết người và tù đày
những đồng bào vượt
biển đi chui, tức trốn đi bằng
đường biển trên khắp nước,
mà chỉ tập chú vào vụ lường
gạt, giết người hàng loạt
bằng mìn sau khi thu hàng chục ngàn
cây vàng của những người
đăng ký chính thức với
cộng sản để được ra
đi khỏi nước. Như chúng ta
biết, sau khi chiếm miền Nam, cộng sản
Việt Nam ngã hẳn theo Nga và chống
Trung cộng, vì thế các thành phần
người Việt gốc Hoa bị nghi ngờ,
bạc đãi. Họ rũ nhau ra đi, giao
nạp tài sản cho cộng sản, đóng
tiền đăng ký ra đi, bỏ hết
chạy lấy người.
Thế giới đã
ghi nhận trong 4 nước mà người
dân ào ạt bỏ nước ra đi
gồm Cuba, Haiti, Albany và Việt Nam, thì các
cuộc vượt đại dương của
hàng triệu người Việt Nam là
gây xúc đông cho lương tâm
nhân loại nhất, cụ thể là hai
triết gia đối nghịch nhau về tư
tưởng chính trị ở Pháp
như Jean Paul Sartre (thiên tả) và André
Gluckman ( thiên hữu) cũng đã
phải động lòng can thiệp với
tổng thống Pháp Valeri Giscard d’Estaing chấp
nhận cho người tỵ nạn Việt Nam
vào Pháp.
Những chuyến nộp
vàng đăng ký vượt biên
tập the, và số tử vong trên biển
rộng
Như chúng ta đã biết,
không kể đến thảm trạng đồng
bào vượt biên bằng đường
bộ qua Miên và Thái, tuyệt đại
đa số đã chọn đại dương
để ra đi. Về ngả này, tựu
trung có hai dạng, hoặc là vượt
biển "chui", tức trốn đi bằng
các loại ghe thuyền nhỏ, hoặc đi
công khai có điều kiện với
nhà nước cộng sản bằng
các ghe tàu lớn, có chuẩn
bị, có ghi danh... được biết
dưới tên "vượt biển đăng
ký". Như vừa nói trên, phần
lớn người ghi danh đăng
ký, hiến tài sản nộp vàng
cho cộng sản là người Hoa, mỗi
lần ghi danh ra đi, số người
có thể lên tới vài ngàn.
Tiến trình cho mỗi chuyến "vượt
biển đăng ký" gồm có lập
danh sách người đi, thu vàng
nộp cho nhà cầm quyền cộng sản,
dọn bãi, đóng hay tân trang ghe tàu,
chuẩn bị thức ăn, nước
uống, dầu, nhớt và các phương
tiện hải hành. Trong tiến trình này,
những người đứng ra
tổ chức chuyến "vượt biển
đăng ký" phải lo từ A đến
Z, cộng sản chỉ ngồi thu vàng. Và
đây là sách lược "ngồi
mát ăn bát vàng" do chính đảng
và nhà nước cộng sản Việt
Nam chủ trương. ( phần sau sẽ nói
rõ hơn về việc thu vàng xong rồi
thu tiếp và giết người hàng
loạt...) Lẫn lộn trong số người
Hoa ra đi là những người
Việt chính gốc tìm đường
đi theo bằng giấy tờ giả người
Hoa, hay mua chuộc, đút lót vàng bạc
cho nhóm tổ chức hay công an để
tìm đường sống. Họ là
những người không dám liều
thân đi "chui", hay đã từng đi
"chui" nhưng lại bị thất bại năm
lần bẩy lượt, và nghĩ rằng
đi "đăng ký" ít ra cũng an
toàn hơn, dù phải tốn vàng
nhiều hơn....
Về điểm này, chúng
tôi xin trích một đoạn trong tác
phẩm "Vàng, Máu và Nước
Mắt" do Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt
Nam Tự Do phát hành năm 2000:
"Phí tổn về hối
lộ để vượt biên.
Không như chính sách
giam người trong các trại tù cải
tạo rập theo khuôn khổ Nga và Tàu,
kế hoạch đoạt vàng của người
vượt biên là một sáng kiến
của cộng sản Việt Nam. Ðối với
người Việt, đây không phải
là chuyện khó tin, nhưng trước
công luận quốc tế, những phát
giác về âm mưu của cộng sản
Việt Nam xuất cảng người đã
gây chấn động bàng hoàng. Truớc
hết, vụ tòa án Hồng Kông "xử
tầu" Huey Fong, đã xác nhận nhà
cầm quyền Việt Nam đồng lõa
với chủ tầu thu vàng của dân
tỵ nạn. Về sau, ông Thành Tín
( tức cựu đại tá Bùi
Tín của quân đội cộng sản,
phó tổng biên tập báo Nhân Dân,
hiện tỵ nạn chính trị ở Pháp/
ghi chú thêm của NSVN) trong hồi ký
Mặt Thật, đã tiết lộ một
kế hoạch của Bộ Nội Vụ cộng
sản gọi là kế hoạch số 2, hay
kế hoạch B, để lấy vàng bán
bãi. Trong vụ Huey Fong, công an thu vàng
của người vượt biên,
người lớn trả 12 lượng,
10 lượng chia cho nhà nước,
2 lượng cho người tổ chức.
Sự chia chát này cũng tùy theo
địa phương, kích thước
thuyền lớn, thuyền nhỏ, và
tuổi tác của các thuyền nhân.
Nhiều nơi công an tuyển người
đi và thu vàng công khai, nhưng ở
miền Nam, họ dùng các kẻ trung gian
mánh mung.
Tiền đăng ký
hai lượng, phần còn lại phải
trả khi sắp được lên tầu,
từ 5 đến 8 lượng cho người
lớn, nửa giá cho trẻ em, con nít
dưới 5 tuôûi được
miễn phí, trung gian bỏ túi 2 lượng.
Không còn nghi ngờ
gì việc nhà nước đứng
ra lợi dụng các chuyến vượt
biên, trách nhiệm về những nỗi
khốn khổ và tử vong trên biển
cả của thuyền nhân, cộng sản
Việt Nam phải gánh chịu."
("Vàng, Máu và Nước
Mắt" trang 45 – 46 / Hội Quốc Tế Y Sĩ
Việt Nam Tự Do 2000)
Chúng tôi xin được
nêu tên vài chiếc tầu chở
người đăng ký vượt
biên may mắn được cộng sản
cho phép chuyển ra tàu lớn hay được
tàu lớn vớt ngoài khơi,
sống sót đến bờ tự
do.
Tầu Hải Hồng chở
2564 người, ra khơi ngày 15/10/1978 được
vào Mã Lai vì lý do nhân đạo
nhờ sự can thiệp của đại
diện LHQ Sampatkumar sau khi điều tra biết
được thuyền nhân đã
nộp vàng bạc để ra đi. Tháng
12/1978, tầu Tùng An mang cờ Panama chở
2300 thuyền nhân đến Phi, bị chính
quyền Marcos ngăn chận và dọa đẩy
ra khơi, mãi đến 1980, tức 2
năm sau, nhờ áp lực của
quốc tế và sự can thiệp của
Ðức Hồng Y Jaime Sin, thuyền nhân
Việt Nam mới được vào
đất Phi.
Ngày 19/12/1978, tầu Huey Fong
chuyển đến Hồng Kông 3300 thuyền
nhân. Nhà cầm quyền Hồng Kông
không cho thuyền nhân lên bờ,
đồng thờ đưa thuyền trưởng
và 10 người khác ra tòa. Kết
quả cuộc xử án, tòa kết
tội các bị cáo, đồng thời
xác nhận nhà cầm quyền Việt
Nam là đồng lõa cho vụ lấy
tiền cho vượt biên. Các thuyền
nhân trên tầu lớn sau đó
được lên bộ...
Về mặt tử vong trên
đường vượt biển, người
chết trên biển vì nhiều lý
do như thuyền đắm, cướp
biển, thuyền nhỏ không chịu nỗi
sóng lớn, hơn nữa, các
thương thuyền đi ngang không tiếp
cứu đến nỗi Cao Ủy Tỵ
Nạn phải lên tiếng trong báo cáo
tại Genève. Khó mà biết được
có bao nhiêu người chết trên
biển. Có nhiều ước lượng
về số người bỏ mạng trong
các chuyến vượt biển. Bernard Le
Roy trong luận án Bác Sĩ Y Khoa đệ
trình năm 1993 cho rằng có tới
500.000 người vượt biên chết,
tức vào khoảng 27% tổng số thuyền
nhân...
(Theo "Vàng, Máu và Nước
Mắt" trang 42 –43 - 44 / Hội Quốc Tế Y Sĩ
Việt nam Tự Do 2000)
Một trường hợp
điển hình về tội ác kinh người
của cộng sản tại Bến Tre qua những
vụ đăng ký vượt biên
lấy vàng: từ lường gạt
đến thảm sát đồng bào.
Như trong phần trình bày
cô đọng, ngắn ngủi ở trên,
chúng ta đã thấy nỗi kinh hoàng
của thế giới khi biết được
những âm mưu của cộng sản
Việt Nam trong chính sách xuất cảng
thuyền nhân để lấy vàng. Dường
như chưa có một chế độ nào
trên thế giới có cái can đảm
làm những việc làm tồi tệ
về mặt con người như thế.
Nhưng, thế giới làm sao biết
được cộng sản Việt Nam có
nhiều cái tồi tệ dã man nghìn
lần hơn việc cho thuyền nhân ra đi
để lấy vàng bỏ túi: Họ
đã vét sạch vàng của thuyền
nhân, một số cho mìn nổ chìm
ghe khi ghe ra cửa biển, một số giam giữ
lại như những tù nhân, bệnh
hoạn, đói khổ và tiếp tục
cho người tiếp xúc với
thân nhân thuyền nhân ở Sài
Gòn và tỉnh thành. Cuối cùng
của màn lường gạt, sát
nhân, tráo trở này là hàng
trăm người chết, hàng vạn
người tan nát cuộc đời...
mà không đến được
bờ tự do. Thế giới không
hề biết chuyện này. Và nếu
chuyện này đến tai LHQ và thế
giới loài người văn minh,
có thể họ không tin hay không tưởng
tượng chuyện đó có thể
xẩy ra trên trái đất này.
Nhưng, sự thật là nó đã
xẩy ra. Nó đã xẩy ra ở
Vũng Tàu, nó đã xẩy ra ở
Tiền Giang, Cần Thơ và nhiều nơi
khác khi thỉnh thoảng có một chiếc
ghe đăng ký bị cho nổ mìn, xác
người trôi tấp lớp lớp
vào bờ. Bao nhiêu người
vừa mất cả vàng bạc, tài
sản, vừa mất cả mạng sống.
Dường như người ta, thân
nhân người chết, đã câm
lặng, chịu đựng oan khiên và
cho những cái chết tức tưởi
đó chôn sâu vào quên lãng,
không một tiếng kêu than, không một
lời cáo trách, kể cả những
người dân ở Vũng Tàu
chứng kiến hàng trăm xác đồng
bào mình dạt vô bờ biển
năm nào.
Người viết nghe kể,
nhưng không có dữ kiện cho các
trường hợp vừa kể trên
ở các địa phương khác,
nhưng có tạm đủ dữ kiện
cho trường hợp thãm sát
ở Bến Tre. Nó là trường
hợp điển hình về một thứ
tội ác kinh tỡm không thể bỏ
qua. Chỉ một vụ này chế độ
Hà Nội cũng đủ bị thế
giới lên án gắt gao.
Trong hai năm liên tục, từ
1978 đến 1979, đảng và nhà
nước cộng sản Việt Nam, theo kế
hoạch 2 hay kế hoạch B của Bộ Nội
Vu, như tiết lộ của ông Bùi Tín
trong Mặt Thật, đã cho thi hành chính
sách bán bãi, đăng ký vượt
biên lấy vàng tại nhiều nơi,
mà một trong những nơi chủ yếu
là tỉnh Bến Tre. Cơ quan thi hành chính
sách là công an Bến Tre. Người
nhận chỉ thị hoàn thành công
tác đảng là Hai Chiến, trung tá
công an Bến Tre.
Trong chiến dịch hốt vàng
năm 1978, công an tỉnh Bến Tre đã
cho phép những người đăng
ký vượt biên đóng từ
6 đến 10 chiếc tàu đăng ký
lớn nhỏ, có khả năng chở
từ 250 người đến 4000 người.
Họ bắt đầu thu vàng theo công
thức mỗi người 10 lượng
vàng cho nhà nước cộng sản,
2 lượng cho nhóm chủ tàu đóng
tàu. Khi tàu đóng xong, sẳn sàng
mọi thứ để lên đường
và bắt đầu ra đi thì công
an thường gửi thêm từ
100 đến 150 người nữa. Số
vàng dâng nộp của nhóm sau cùng
này hoàn toàn nằm trong tay của
công an. Người ta không biết trong
số này có bao nhiêu là thân
nhân, bạn bè liên hệ với
công an, bao nhiêu là thành phần
nộp tiền cho công an để được
gửi đi, và bao nhiêu là các
cán bộ tình báo VC được
cài theo ra nước ngoài cho các
điệp vụ tương lai của cộng sản.
Thế nhưng, theo những người
đã sống ở Bến Tre, chứng
kiến những cái chết thảm của
đồng bào, chứng kiến những
vụ tàu đăng ký ra đi... thì
đa số những chuyến đăng
ký ra đi có người của
công an gởi kèm theo vào giờ
chót đều ra biển rộng an toàn,
đến nơi đến chốn. Còn
lại, một số tàu không có người
công an gởi theo , khi ra cửa sông
Ba Lai và Hàm Luông, tàu bị nổ
tan như xác pháo trên biển. Các
vụ nổ mìn vỡ tàu đầy
ắp thuyền nhân sau khi đã giao vàng
cho cộng sản này xẩy ra năm 1978 mấy
lần, có chiếc đông lên tới
600 người, tất cả đều
tử nạn, lớp lớp xác
người trôi tắp ngược
vô bờ sông thuộc các xã
Thừa Ðức, Thế Thuận, Bình
Ðại tỉnh Bến Tre. Xác người
lềnh bềnh trên dòng sông, xác
người lềnh bền trôi ra biển,
xác người lềnh bền tắp
vô bờ... làm ô nhiễm, hôi
thối cả một vùng dân cư sống
hai bên bờ sông. Sau đó, xác
người lớn, xác trẻ em bị
cá ăn... và một thời gian sau
đó, dân chài đã lưới
được những con cá còn
cả xương người trong bụng. Dân
tại vùng này đã không dám
ăn cá gần cả hai năm 1978 – 1979...
Thời gian lại phôi
phai, sức ép của chế độ,
của đói khổ, của khát vọng
ra đi tìm tự do, của khát vọng
tìm đất sống, đã lại
dồn người ta vào những
chuyến tàu đăng ký khác,
cũng ở Bến Tre. Còn gì oan
nghiệt hơn hở trời!
Sau các vụ cho đi thoát,
cho nổ mìn thãm sát thuyền nhân
trên biển, hàng chục ngàn lượng
vàng được Trung tá công
an Hai Chiến thu chuyển ra Bắc cho Lê Duẩn/Lê
Ðức Thọ và các tay chóp
bu của đảng cộng sản Việt Nam,
năm 1979, nhà nước cộng sản
lại cho phép đóng 12 chiếc tàu
đăng ký cho số người đi
dự trù khoảng 4000 người,
mỗi người đóng tổng cộng
12 lượng vàng. Khi tàu đóng
xong, tất cả sẳn sàng lên đường
với đầy đủ lương
thực, nước uống, dầu và
thiết bị hải hành... thì công
an Bến Tre cho hay là họ đã móc
nối được một chiếc tàu
sắt lớn mang cờ Panama có khả
năng bốc một lược 4000 người,
đi biển an toàn hơn. Chiếc Panama có
mặt ở cửa biển Bình Ðại,
được công an cộng sản thỏa
thuận/deal với giá 2 lượng
vàng mỗi người đi, vị
chi
là 8000 cây vàng cho số 4000 người
mà công an phải giao cho nhóm điều
khiển tàu Panama trước khi tàu
nhổ neo. Cũng theo giải pháp này,
tất cả chủ ghe của 12 chiếc ghe đóng
xong phải giao cho nhà nước cộng
sản. Làm một bài toán, nhà
nước cộng sản Việt Nam ngồi
không vẫn thu được 8 lượng
vàng X 4000 = 32.000 lượng, cộng với
12 chiếc ghe đóng sẳn có đầy
đủ phương tiện hải hành sẳn
sàng ra đi.( Sau khi chi 2 lượng mỗi
đầu người cho tàu lớn...)
Chấp nhận giải pháp
được chuyển qua tàu sắt
vì nghĩ sẽ được an toàn
hơn trên biển, hàng 4 ngàn người
đồng ý qua tàu Panama, nằm đầy
các hầm tàu và boang tàu. Rồi
ngày một, ngày hai... tàu không nhổ
neo. Khi công an cộng sản nắm được
trong tay toàn bộ số vàng khổng lồ
và 12 chiếc ghe hiến lại, họ trở
mặt, không thi hành những điều
giao ước với tàu Panama.
Tình trạng kỳ kèo
nhùng nhằng này kéo dài gần
cả nửa tháng, hàng ngàn người
sống chen chúc, đói khát, mất
vệ sinh dưới các hầm tàu
lâm vào tình trạng sống dở
chết dở tuyệt vọng. Các toán
công an cộng sản bắt đầu màn
trấn lột vô lương kế tiếp,
tàn nhẫn, lạnh lùng: họ bán
từng gói thức ăn, từng
lon nước uống để lột từng
chỉ vàng còn sót lại của đồng
bào theo kiểu "tiền trao, cháo múc",
họ thả xuống hầm tàu một sợ
dây cột cai lon hay chiếc móc để
khi kéo lên một khâu vàng, họ
mới thả xuống một lon nước
hay một gói thức ăn. Màn vơ
vét này có chỉ thị của bộ
Nội Vụ cộng sản hay chỉ là chuyện
lợi dụng của công an cấp dưới,
không ai biết, nhưng nó quả đã
diễn ra trước mũi công an cấp
trên, công khai và tàn nhẫn. Trong
thời gian đó, nhiều trẻ em
và người già đã chết,
và xác bị vứt xuống biển
một cách lạnh lùng, không kể
số người lã liệt, bệnh tật,
đói khát rũ riệt đầy
khoang tàu.
Không biết giữa tàu
Panama và công an Bến Tre kèn cựa
ra sao, công an lại trở mặt thông
báo cho các nhóm tổ chức đăng
ký, đòi thêm mỗi đầu
người một cây vàng thì tàu
mới nhổ neo ra đi. Ai còn vàng
thì đóng tại chỗ, ai không vàng
thì cử đại diện, mỗi người
viết một cái thư cho gia đình,
công an chở về Sài Gòn, gia
đình cung cấp thêm hay vay mượn
nộp cho đủ. Thế nhưng sau đợt
vét hàng ngàn lượng vàng
sau cùng này, cộng sản cũng không
giao số lượng vàng mà họ
thỏa thuận cho nhóm người điều
khiển tàu Panama, và tàu Panama đã
quyết định rời bến không
chở theo bất cứ một thuyền
nhân nào.
Truớc quyết định
này của tàu Panama, công an Bến Tre
không nhượng bộ, họ quyết định
ăn hết số vàng thu được,
vì nạn nhân là hàng ngàn người
Việt Nam mà đa số là người
Hoa... đối với cộng sản Việt
Nam chỉ là cỏ rác. Hai Chiến, trung
tá công an và các giới chức
công an Bến Tre, có thể cả trung ương
đảng ở Hà Nội, đã
tìm cái cớ để chuyển
hết thuyền nhân đăng ký ra
khỏ tàu để tập trung ở
An Nhơn, Thạnh Phú. Cái lý cớ
ngụy tạo đó là: Có bọn
phản động trong đám thuyền nhân.
Hàng ngàn người lũ lượt
chen chúc, vật vờ, bệnh hoạn đói
khát như những thây ma được
cộng sản dùng những ghe đăng
ký đã đóng sẳn và
để lại cho họ, bốc khỏi tàu
Panama và chuyển lên bờ, nhốt
tập trung ở An Nhơn, Thạnh Phú...
Thuyền nhân lên lại đất liền
như nhữngnhư những người
sắp chết, họ quá đói, họ
quá yếu, họ ăn cả củ non, ăn
cả chuối sống và nhiều người
đã chết sau đó vì bệnh
hoạn tiêu chảy, thổ tả....
Ðể cho "gánh nặng
người" sau khi đã bị trấn
lột sạch tan biến dần, công an thả
lỏng sự kiểm soát cho ai muốn
trốn thì trốn, hoặc giả họ không
còn nhu cầu giam giữ sau khi kế hoạch
tận thu vàng đã thành công,
hoặc giả công an không đủ nhân
lực để kiểm soát hàng ngàn
người tá túc gần như ăn
xin ở An Nhơn, Thạnh Phú và các
xã lân cận... Số người
sống sót sau cơn ác mộng tìm
cách trốn về Sài Gòn hay về
quê cũ. Tàu Panama đã ra khơi.
Hàng ngàn người ở lại
phờ phạc, đau ốm, đói
khát,trốn chui, trốn nhủi... để
thảm kịch Bình Ðại, Bến Tre của
chuyến đi đăng ký không thành
tan biến, phai mờ dần trong căm nính
và uất hận của nạn nhân, và
của cả đồng bào Việt Nam trong
vùng, những người đã
âm thầm chia cơm xẻ áo, dang tay bảo
bọc và giúp đỡ đồng
bào nạn nhân khốn khổ. Biết
bao nước mắt đã đổ
ra trong những đêm bà con tâm
sự cùng nhau. Cái ghê gớm
kinh người của cộng sản Việt
Nam là ở chỗ đó.
Theo ước đoán
của đồng bào địa phương
tại .... Bến Tre thì trong 2 năm 1978 và
1979, số người chết vì bị
vỡ tàu tại cửa biển có
khoảng từ 5 đến 8 ngàn người
tại cửa Ba Lai, Bình Ðại... mà
đa số là ghe tàu vỡ chìm
đều do mìn nổ trong hầm máy.
Người chịu trách nhiệm cho các
"chiến dịch" vét vàng và giết
người tàn độc này là
trung tá công an Hai Chiến, phó công
an tỉnh Bến Tre thời đó. Ngoài
những chia chác tại địa phương,
số vàng vét được từ
những vụ ghe tàu đăng ký
vượt biên cho đi lọt, hay bị
thảm sát, riêng chỉ tại Bến Tre,
số vàng chuyển ra Hà Nội cũng
là con số khủng lồ mà khó
ai biết được chính xác bao
nhiêu.
Tại sao họ dám làm
chuyện tày trời đó? Dường
như sau 1975, khi người và đảng
cộng sản Việt Nam vỗ ngực, ưởn
ra đại dương gào thét "đảng
cộng sản Việt Nam vô địch, bách
chiến bách thắng, đánh bại
một lèo ba đế quốc Pháp, Nhật,
Mỹ..." thì phần còn lại của
trái đất dưới mắt họ
bỗng nhỏ lại, nhỏ hơn nước
Việt Nam mà họ mới vừa thống
trị toàn vẹn, "nhân loại và nước
Mỹ im thin thít trước chiến thắng
vĩ đại của đảng ta" (!)... Và
từ đó họ nghĩ họ là
con mãnh sư vô địch giữa
rừng Phi châu toàn là nai non khật
khờ, không cần dư luận thế
giới, nên họ có thể ra tay làm
bất cứ điều gì... mà
không sợ bất cứ ai hài
tội.
Tạm kết.
Sau khi cộng sản thành công
trong việc cưỡng chiếm miền Nam,
họ đã triệt để thực
hiện công tác toàn đảng gặt
hái chiến thắng bằng các nổ
lực mà người dân miền
Nam gọi gọn là "Vào vơ vét về".
Một miền Nam sung túc, giàu đẹp,
cho dù ngay cả trong chiến tranh, đã
tàn lụi, héo hắt, nghèo nàn
và kiệt quệ. Họ đã vắt
kiệt sức sống của miền Nam. Ðánh
tư sản ( Ðỗ Mười là
chủ chốt) hốt vàng bạc, nhà
cửa, đẩy dân đi kinh tế
mới chưa đủ; tháo gỡ
chở về Bắc toàn bộ tài
sản của chính phủ miền Nam để
lại, chưa đủ, Bộ Nội Vụ cộng
sản cho thi hành kế hoạch số 2 ( kế
hoạch B), theo như bài viết của ông
Bùi Tín trong "Mặt Thật", để triệt
vét vàng qua các vụ xuất cảng
thuyền nhân. Chắc chắn trong phần
tài sản kếch xù của những
đảng viên cộng sản và gia đình,
của tập đoàn lãnh đạo
tư bản đỏ Mafia Hà Nội/Huế/SàiGòn
có hiện nay... không thiếu những
thỏi "vàng, máu và nước
mắt" của hàng vạn thuyền nhân
Việt Nam bất hạnh không đến được
bờ tự do. Xin đồng bào
trong và ngoài nước nhớ
cho điều đó!!!
Bài viết này sẽ
không có, sẽ không tới tay
bạn đọc và thế giới nếu
cộng sản Việt Nam còn một chút
tính người là cho thuyền nhân
Việt Nam một kẻ hở sau cùng để
sống, để vượt biển rộng,
sau khi đảngï đã thẳng tay vét
sạch vàng bạc của dân, nghĩa là
cho họ ra đi. Nhưng không, chứng
tích tội ác của cộng sản Việt
Nam trong các vụ bóc lột và thãm
sát thuyền nhân một cách tàn
độc, dã man, có chủ ý, có
chỉ thị, có sách lược chỉ
đạo.... đã cho thấy đảng
cộng sản Việt nam, các nhà lãnh
đạo của đảng này, từ
xưa tới nay, là một tập đoàn
tội ác kinh người trước
mắt Thượng Ðế và lương
tri nhân loại, mà dường như
từ Angola cho đến Cuba, từ Bắc
Hàn cho đến Liên Bang Nga thời
trước... không một nhà cầm
quyền nào, dù là cộng sản,
lại ra tay đối với đồng
bào mình dã man như cộng sản Việt
Nam. Cộng sản Việt Nam là số một,
về man tính, tính từ đáy
địa ngục! Vì thế, chúng ta không
ngạc nhiên về những cuộc thãm
sát đã xẩy ra trên đất
Bắc trong những vụ "cải cách
ruộng đất" những năm 54, những
vụ chôn sống hàng ngàn đồng
bào ở Huế trong trận Mậu Thân
68.... dưới sự chỉ đạo
hay đồng lõa của đảng VC.
Bài này, ngoài việc
công bố trước dư luận đồng
bào Việt Nam trong và ngoài nước,
trước dư luận thế giới
như để mở một chéo màn
đen đau khổ trên đầu dân
tộc Việt Nam riêng về vụ thảm sát
các tàu đăng ký ra đi không
bao giờ đến bến. Người
viết cũng xin được gửi
đến tất cả những nạn nhân
còn sống sót qua những vụ thảm
sát, hiện sống bên trong nước
hay ở các nước tự do,
gửi đến thân nhân gia đình
nạn nhân, và anh đặc biệt anh kỹ
sư Phạm Hùng, một trong hàng ngàn
người sống sót trong vụ tàu
Panama ở cửa biển Bình Ðại
năm xưa, khi thoát được về
Sài Gòn và "vượt biên chui"
đến Úc năm 1980.
Chúng tôi và thế
giới cần nghe thêm những tiếng
nói câm nín, uất hận của quý
vị đã cầm lòng dấu kín
những đau thương đó từ
¼ thế kỷ nay. Khi người viết
đã bất chấp những đe
dọa của tà quyền Hà Nội, đưa
ra ánh sáng những vụ thảm sát
này, thì không có lý do gì
các tiếng nói của những nạn
nhân trực tiếp lại bị chính
mình tiếp tục cầm giữ trong ký
ức đớn đau, oan nghiệt một
thời khi quý vị đang sống dưới
trời tự do...
Người viết xin nói
thêm, cộng sản Việt Nam có thể
viện dẫn khói súng trong chiến tranh
để tàn sát hàng ngàn đồng
bào Việt Nam tại Huế trong trận Mậu
Thân 1968, tàn sát hàng ngàn đồng
bào trên Ðại Lộ Kinh Hoàng 1972
khi di tản khỏi Quảng Trị, tàn sát
vô số đồng bào trên quốc
lộ 14 và liên tỉnh lộ 7B và hai
bên bờ sông Ba năm 1975 trong cuộc
triệt thoái Cao Nguyên..., nhưng không,
muôn ngàn lần không, không có
bất cứ điều gì có thể
biện minh được hàng ngàn
vụ hành quyết quân nhân VNCH bên
trong và bên ngoài các trại tù
"cải tạo" trên khắp nước
sau cái gọi là "đại thắng mùa
xuân 75". Và oan nghiệt hơn, lại không
có bất cứ cái gì biện
minh được các tội ác kinh
người khi thảm sát đồng
bào không một tấc sắt trong tay sau
khi thu vét sạch vàng bạc, tài sản
của họ, khi họ bỏ lại hết cho đảng
để ra đi.
Nói như Nguyễn Chí
Thiện. "Ðảng thực chất chỉ
là đảng cướp!". Chưa đủ!
Có cái đảng cướp nào
"ưu việt" hơn đảng cộng sản
Việt Nam trong nghệ thuật trấn áp, bóc
lột và thảm sát người đồng
chủng? Không! So với đảng cộng
sản Việt Nam, các loại đảng cướp
khác trên giang hồ là con số zero
vĩ đại.
Và dòng cuối cùng
gửi đảng cộng sản Việt Nam:
Hãy thử lên tiếng phủ nhận
vụ thảm
sát đồng bào kinh người
ở xã Tân Lập, Long Khánh ngày
22/4/1975 (trong bài tôi viết trước
đây) và vụ đăng ký vượt
biên ở Bến Tre trong hai năm 1978 –
1979 như vừa được đề
cập trong bài này ...
* * *
Người viết mở
lại đống tro, một trong những đống
tro đầy hài cốt, thịt xương,
máu, nước mắt của đồng
bào ba miền Trung Nam Bắc Việt Nam trong
dòng lịch sử cận đại. Ðống
tro, vẫn còn hâm hấp nóng, chưa
bao giờ nguội tàn trong tim người
viết từ hơn 25 măm nay, và cảm
thấy là mình có tội cho đến
ngày cuối đời nếu không
viết ra những dòng này. Khi tội
ác của đảng cộng sản Việt
Nam được phơi bày, ngày tàn
của tà quyền Hà Nội sẽ đến
gần dần. Xin hãy giữ lửa
ấm trong những đóng tro chưa tàn...
Hải Triều
1/6/2002
Ghi chú:
1. Nguyệt San Việt Nam sẳn
sàng đón nhận tất cả những
đóng góp hay ý kiến bất
cứ từ đâu đến, kể
cả của đảng cộng sản Việt
Nam, về bài viết trên đây.
Và chúng tôi mong được liên
lạc với những nạn nhân hay
thân nhân của những đồng
bào nạn nhân còn sống sót
trong những vụ thãm sát mà chúng
tôi viết trong bài này, đăc
biệt là anh kỹ sư Phạm Hùng hiện
sống bên Úc. Xin anh em bên Úc, ai
biết anh Phạm Hùng, nhờ nhắn
tiếp giùm.
Mọi tin tức, hình ảnh,
chi tiết nhất là tên tuổi người
liên lạc sẽ được giữ
kín.
Chúng tôi nhận trách
nhiện về bài viết và sẳn
sàng đối diện với sự
thực.
Xin liên lạc về Nguyệt
San Việt Nam
PO.Box 74013 Hillcrest Park. PO
Vancouver. BC., V5V - 5C8, Canada
Phone/Fax: 604.8795.9022
Email: nsvietnam@yahoo.com
|