Tạp Chí Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt Nam Tự Do Dân Chủ
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada
Phone+Fax: (604) 875-9022 - Sau 6PM (604) 879-1179
Email: nsvietnam@yahoo.com

Cập nhật hóa hàng ngày
Chủ Biên: Hải Triều
Ðại diện nhóm Úc châu: Trương Minh Hoàng - Ðại diện nhóm Âu châu: Trần Hữu Phúc - Ðại diện nhóm Hoa Kỳ: Dương Thái Sơn - Ðại diện nhóm nội địa: Hồng Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những người góp phần đấu tranh cho một Việt Nam tự do, thực hiện bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành trên toàn thế giới.
Các Số Báo Cũ
Hà Thúc Sinh
Hoàng Ngọc Liên
Kathy Trần
Lâm Chương
Lâm Lễ Trinh
Nguyễn Thanh Hoàng
Phạm Văn Nhàn
Phan Nhật Nam
Phó Thường Dân
Sổ Tay Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Trần Viết Ðại Hưng
Tài Liệu - Góp Nhặt
Nối Kết

Bài  Mới  Nhất
CON VỊT



Tác giả Trần Gia Phụng.
In lần thứ 2 - 28CAN$/22US$


Chiến sử QLVNCH của Phạm Phong Dinh - Tái bản lần 2.
35CAN$/25US$ *


Tác giả Bùi Ngọc Tấn.
25CAN$/20US$
(Ở Mỹ bán 35US$).

* Giá bán kể cả cước phí.
Liên lạc: NS Việt-Nam.




Các tập thơ chiến đấu của 
Lê Khắc Anh Hào 
(và Ý Yên, Trần Thúc Vũ).

Nguyệt-San Việt-Nam Số 61
(Tháng 7&8/2002)

Tội ác kinh người của cộng sản Việt Nam: Thãm sát, lường gạt, vàng, máu và nước mắt của hàng vạn đồng bào không đến được bờ tự do trong những vụ cho đăng ký vượt biên lấy vàng sau 1975
Hải Triều

(Trong năm 2001, khi VC làm ồn ào vụ "Thanh Phong và Bob Kerry" trên báo trong nước, trên đài Hà Nội... để bắt chẹt Mỹ trong nổ lực kiếm đô la bồi thường và tuyên truyền tội ác "đế quốc Mỹ", vài ngày sau, chúng tôi đã tung ra tài liệu về tội ác kinh người của cộng sản Việt Nam trong vụ thảm sát đồng bào ở xã Tân Lập, Long Khánh ngày 22/4/1975 sau khi Sư Ðoàn 18 BB được lệnh rút bỏ vùng này.

Việc này xẩy ra khi các sư đoàn Bắc quân của VC đã tràn vào vùng bỏ trống, vướng mìn claymore khi tiến vào Tân Lập, bị chết thêm một số sau những tổn thất nặng nề ở Long Khánh, họ đã tàn sát hơn 50% dân số của xã Tân Lập để trả thù, trong số đó có cả những gia đình có thân nhân nhân theo VC. Vụ thãm sát kinh người và dã man này bị chìm khuất trong trong những biến động lịch sử sau bức màn tre XHCN khi Sài Gòn sụp đổ năm 75.

Bài viết trước đây về vụ Tân Lập không nhằm hóa giải tội của trung úy Bob Kerry/ SEAl, nếu có, nhưng vụ Thanh Phong chỉ là cái dịp để nhóm NSVN đưa tội ác của CSVN về vụ Tân Lập ra ánh sáng.

Vụ thảm sát ở xã Tân Lập khi đưa lên các diễn đàn toàn cầu, đã được anh em ở Hoa Kỳ chuyển ngữ sang tiếng Anh, gửi đi khắp nơi... thì cái loa Phan Thúy Thanh của bộ Ngoại Giao CSVN trên đài Hà Nội bỗng im tiếng, và chuyện VC thuê luật sư Mỹ kiện Bob Kerry về vụ Thanh Phong để đòi tiền bồi thường dường như cũng chìm xuồng luôn. Cán bộ cộng sản ở Hà Nội sau đó đã email đến NSVN kết tội người viết là tay sai đế quốc, đã giúp làm nhẹ tội Bob Kerry..., nhưng điều quan trọng mà chúng tôi ghi nhận không phải là việc hăm dọa hay kết tội người viết, mà là Hà Nội không có lấy một dòng chữ lên tiếng phủ nhận tội ác của họ đối với đồng bào. Hà Nội không thể gột rửa tội ác của mình trong vụ thảm sát ở xã Tân Lập bằng vụ Thanh Phong mù mờ trong thời kỳ chiến tranh ác liệt.

Trong muôn ngàn tội ác kinh người của đảng cộng sản Việt Nam, bài viết kế tiếp sau đây là một trong những vụ thảm sát phi nhân bị vùi chôn trong dòng lịch sử bất hạnh của dân tộc, và việc khai quật sự thật về các loại tội ác này là nhiệm vụ của lương tâm và lịch sử, của bất cứ ai, của bất cứ giai đoạn nào, nếu dấu tích bị nhô ra khỏi bóng tối. Không viết ra, âm khí oan khuất của đồng bào nạn nhân cứ như lờn vờn trong ký ức. Người viết chỉ làm nhiệm vụ của một người Việt Nam còn một chút lương tri, còn một chút đau đớn, không chấp nhận để tội ác của cộng sản chìm mất trong quên lãng; viết và chấp nhận bất cứ loại đòn thù nào, đe dọa nào từ Hà Nội hay từ các nhóm tay sai ở hải ngoại của VC như đã từng xẩy ra trước đây, và biết đâu may ra nó đóng góp chút gì cho tiến trình sụp đổ chế độ cộng sản tại Việt Nam / Hải Triều)

* * *

Vào bài

Trong dòng chiến sử quốc cộng hơn 30 năm, mặt thực của cộng sản Việt Nam được ẩn kính dưới những huyền thoại dệt từ bộ máy tuyên truyền lừa bịp của chính đảng csvn và phong trào cộng sản quốc tế, vì đảng csvn là một trong những mắc xích quan trọng của chiến lược Ðông Á mà Mạc Tư Khoa xưa rất cần cho chiến lược bành trướng chủ nghĩa cộng sản toàn thế giới. Huyền thoại này được tô đen thêm do tâm thức không tưởng mê muội của nhiều người Việt Nam về chiêu bài giải phóng dân tộc, chiêu bài no cơm ấm áo, chiêu bài xóa bỏ bất công, chiêu bài công bình xã hội, tự do dân chủ... mà người cộng sản đã hứa hẹn, tuyên dương... Ðộc lập dân tộc thực ra chỉ là cái chiêu bài để che dấu mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà Hồ Chí Minh đã nhồi nhét vào đầu vô số những người theo cộng sản kể từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, nó trở thành bùa mê thuốc lú với cái khẩu hiệu "yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội". Thế nhưng không bao lâu sau ngày Sài Gòn sụp đổ, mặt thực của đảng csvn, của chế độ Hà Nội đã hiện hình, dần dần rõ nét, kinh hoàng, man rợ, tráo trở, dã man và phản trắc. Khi cả nước bừng tỉnh, thì cả nước đã bị nhốt vào chuồng người, từ Nam tới Bắc, từ Cà Mâu tới Nam Quan.

Vì ấu trĩ, thờ ơ, u tối
Vì muốn an thân, vì tiếc máu xương
Cả nước đã qui về một mối
Một mối hận thù, một mối đau thương
Hạnh phúc, niềm mơ, nhân phẩm, luân thường
Ðảng tới là tan nát cả...
(Nguyễn Chí Thiện/Vì ấu trĩ)
Thực vậy, khi bức màn tre xã hội chủ nghĩa phủ chụp xuống, cả nước bị đẩy vô tròng, một vòng oan nghiệt giăng phủ cả hai miền Nam Bắc, người ta rùng mình và tìm đường tháo chạy, mấy cây cột đèn bất hạnh đã không có chân để ra đi. Năm năm đầu, từ 1975 đến 1979, cả nước phủ một mầu tang đói khổ, chiến tranh hai đầu Nam (Cambodia) Bắc (biên giới Hoa Việt) và áp bức, chết chóc, tù tội từng ngày, từng giờ, từng tiếng gõ cửa ban đêm, từng giọi nước mắt mẹ khóc con, vợ khóc chồng, anh khóc em, tù đày, ly chia, chết chóc...

Tại miền Nam, sau 1975, nhà tù giăng mắc khắp nước, mỗi sáng mở cửa ra, dường như người dân ai cũng đối diện với cửa nhà tù, gia đình nào cũng có thân nhân xa gần nằm trong tù. Ít có nơi nào trên thế giới bị sống trong quái trạng lạ lùng, đen tối và bi đát này. Ngoài những nhà tù chính hiệu, cộng sản dựng lên vô số những trại tù đủ loại dưới cái tên trá hình là "trại cải tạo" để giam hãm, trả thù những chiến binh đối chiến bại trận. Ðiều này không có trong bất cứ điều khoản nào của công ước quốc tế Geneve về tù hàng binh. Hãy đọc mấy dòng báo Nhân Dân tháng 6/1975:

"Cải tạo là một diễn biến bền bỉ và lâu dài, được quản lý chặc chẽ và liên tục, chúng ta phải quản lý từng cá nhân, quản lý tư tưởng, hành động, lời nói, cách sống của đối tượng, của quân ngụy..."

Chính vì cả nước biến thành một nhà tù vĩ đại mà đồng bào, nhất là dân ở miền Nam, ùn ùn tìm đường thoát, bất kể ngày đêm, bất kể sống chết. Thái Bình Dương bỗng hẹp lại như dòng sông Dịch in bóng Kinh Kha trước những chết chóc, tù đày, đói khổ...trùng trùng giăng mắc sau lưng với hàng ngàn, hàng vạn đồng bào bất hạnh len lách trong bóng đêm để thoát ra biển rộng, họ không làm thân Kinh Kha sang sông giết bạo Tần, mà làm kẻ trốn chạy một thứ bạo Tần, một chế độ Tần tân thời bạo ngược, nham hiểm và dã man có hệ thống số một trong cộng đồng nhân loại:

Bên kia sông Dịch dòng sinh tử
Tráng sĩ hề! Thân trao núi sông
Một mối thù nung trên mũi kiếm
Một xác thân nhẹ tựa lông hồng.
Người nay hơn kẻ qua sông Dịch
Cả triệu thuyền nhân vượt biển Ðông
Sông Dịch, Kinh Kha còn ngại sóng
Thái Bình Dương người coi như không!
(lê khắc anh hào)
* * *

Bài viết này không nói đến những vụ cộng sản giết người và tù đày những đồng bào vượt biển đi chui, tức trốn đi bằng đường biển trên khắp nước, mà chỉ tập chú vào vụ lường gạt, giết người hàng loạt bằng mìn sau khi thu hàng chục ngàn cây vàng của những người đăng ký chính thức với cộng sản để được ra đi khỏi nước. Như chúng ta biết, sau khi chiếm miền Nam, cộng sản Việt Nam ngã hẳn theo Nga và chống Trung cộng, vì thế các thành phần người Việt gốc Hoa bị nghi ngờ, bạc đãi. Họ rũ nhau ra đi, giao nạp tài sản cho cộng sản, đóng tiền đăng ký ra đi, bỏ hết chạy lấy người.

Thế giới đã ghi nhận trong 4 nước mà người dân ào ạt bỏ nước ra đi gồm Cuba, Haiti, Albany và Việt Nam, thì các cuộc vượt đại dương của hàng triệu người Việt Nam là gây xúc đông cho lương tâm nhân loại nhất, cụ thể là hai triết gia đối nghịch nhau về tư tưởng chính trị ở Pháp như Jean Paul Sartre (thiên tả) và André Gluckman ( thiên hữu) cũng đã phải động lòng can thiệp với tổng thống Pháp Valeri Giscard d’Estaing chấp nhận cho người tỵ nạn Việt Nam vào Pháp.

Những chuyến nộp vàng đăng ký vượt biên tập the, và số tử vong trên biển rộng

Như chúng ta đã biết, không kể đến thảm trạng đồng bào vượt biên bằng đường bộ qua Miên và Thái, tuyệt đại đa số đã chọn đại dương để ra đi. Về ngả này, tựu trung có hai dạng, hoặc là vượt biển "chui", tức trốn đi bằng các loại ghe thuyền nhỏ, hoặc đi công khai có điều kiện với nhà nước cộng sản bằng các ghe tàu lớn, có chuẩn bị, có ghi danh... được biết dưới tên "vượt biển đăng ký". Như vừa nói trên, phần lớn người ghi danh đăng ký, hiến tài sản nộp vàng cho cộng sản là người Hoa, mỗi lần ghi danh ra đi, số người có thể lên tới vài ngàn. Tiến trình cho mỗi chuyến "vượt biển đăng ký" gồm có lập danh sách người đi, thu vàng nộp cho nhà cầm quyền cộng sản, dọn bãi, đóng hay tân trang ghe tàu, chuẩn bị thức ăn, nước uống, dầu, nhớt và các phương tiện hải hành. Trong tiến trình này, những người đứng ra tổ chức chuyến "vượt biển đăng ký" phải lo từ A đến Z, cộng sản chỉ ngồi thu vàng. Và đây là sách lược "ngồi mát ăn bát vàng" do chính đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam chủ trương. ( phần sau sẽ nói rõ hơn về việc thu vàng xong rồi thu tiếp và giết người hàng loạt...) Lẫn lộn trong số người Hoa ra đi là những người Việt chính gốc tìm đường đi theo bằng giấy tờ giả người Hoa, hay mua chuộc, đút lót vàng bạc cho nhóm tổ chức hay công an để tìm đường sống. Họ là những người không dám liều thân đi "chui", hay đã từng đi "chui" nhưng lại bị thất bại năm lần bẩy lượt, và nghĩ rằng đi "đăng ký" ít ra cũng an toàn hơn, dù phải tốn vàng nhiều hơn....

Về điểm này, chúng tôi xin trích một đoạn trong tác phẩm "Vàng, Máu và Nước Mắt" do Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do phát hành năm 2000:

"Phí tổn về hối lộ để vượt biên.

Không như chính sách giam người trong các trại tù cải tạo rập theo khuôn khổ Nga và Tàu, kế hoạch đoạt vàng của người vượt biên là một sáng kiến của cộng sản Việt Nam. Ðối với người Việt, đây không phải là chuyện khó tin, nhưng trước công luận quốc tế, những phát giác về âm mưu của cộng sản Việt Nam xuất cảng người đã gây chấn động bàng hoàng. Truớc hết, vụ tòa án Hồng Kông "xử tầu" Huey Fong, đã xác nhận nhà cầm quyền Việt Nam đồng lõa với chủ tầu thu vàng của dân tỵ nạn. Về sau, ông Thành Tín ( tức cựu đại tá Bùi Tín của quân đội cộng sản, phó tổng biên tập báo Nhân Dân, hiện tỵ nạn chính trị ở Pháp/ ghi chú thêm của NSVN) trong hồi ký Mặt Thật, đã tiết lộ một kế hoạch của Bộ Nội Vụ cộng sản gọi là kế hoạch số 2, hay kế hoạch B, để lấy vàng bán bãi. Trong vụ Huey Fong, công an thu vàng của người vượt biên, người lớn trả 12 lượng, 10 lượng chia cho nhà nước, 2 lượng cho người tổ chức. Sự chia chát này cũng tùy theo địa phương, kích thước thuyền lớn, thuyền nhỏ, và tuổi tác của các thuyền nhân. Nhiều nơi công an tuyển người đi và thu vàng công khai, nhưng ở miền Nam, họ dùng các kẻ trung gian mánh mung.

Tiền đăng ký hai lượng, phần còn lại phải trả khi sắp được lên tầu, từ 5 đến 8 lượng cho người lớn, nửa giá cho trẻ em, con nít dưới 5 tuôûi được miễn phí, trung gian bỏ túi 2 lượng.

Không còn nghi ngờ gì việc nhà nước đứng ra lợi dụng các chuyến vượt biên, trách nhiệm về những nỗi khốn khổ và tử vong trên biển cả của thuyền nhân, cộng sản Việt Nam phải gánh chịu."

("Vàng, Máu và Nước Mắt" trang 45 – 46 / Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do 2000)

Chúng tôi xin được nêu tên vài chiếc tầu chở người đăng ký vượt biên may mắn được cộng sản cho phép chuyển ra tàu lớn hay được tàu lớn vớt ngoài khơi, sống sót đến bờ tự do.

Tầu Hải Hồng chở 2564 người, ra khơi ngày 15/10/1978 được vào Mã Lai vì lý do nhân đạo nhờ sự can thiệp của đại diện LHQ Sampatkumar sau khi điều tra biết được thuyền nhân đã nộp vàng bạc để ra đi. Tháng 12/1978, tầu Tùng An mang cờ Panama chở 2300 thuyền nhân đến Phi, bị chính quyền Marcos ngăn chận và dọa đẩy ra khơi, mãi đến 1980, tức 2 năm sau, nhờ áp lực của quốc tế và sự can thiệp của Ðức Hồng Y Jaime Sin, thuyền nhân Việt Nam mới được vào đất Phi.

Ngày 19/12/1978, tầu Huey Fong chuyển đến Hồng Kông 3300 thuyền nhân. Nhà cầm quyền Hồng Kông không cho thuyền nhân lên bờ, đồng thờ đưa thuyền trưởng và 10 người khác ra tòa. Kết quả cuộc xử án, tòa kết tội các bị cáo, đồng thời xác nhận nhà cầm quyền Việt Nam là đồng lõa cho vụ lấy tiền cho vượt biên. Các thuyền nhân trên tầu lớn sau đó được lên bộ...

Về mặt tử vong trên đường vượt biển, người chết trên biển vì nhiều lý do như thuyền đắm, cướp biển, thuyền nhỏ không chịu nỗi sóng lớn, hơn nữa, các thương thuyền đi ngang không tiếp cứu đến nỗi Cao Ủy Tỵ Nạn phải lên tiếng trong báo cáo tại Genève. Khó mà biết được có bao nhiêu người chết trên biển. Có nhiều ước lượng về số người bỏ mạng trong các chuyến vượt biển. Bernard Le Roy trong luận án Bác Sĩ Y Khoa đệ trình năm 1993 cho rằng có tới 500.000 người vượt biên chết, tức vào khoảng 27% tổng số thuyền nhân...

(Theo "Vàng, Máu và Nước Mắt" trang 42 –43 - 44 / Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt nam Tự Do 2000)

Một trường hợp điển hình về tội ác kinh người của cộng sản tại Bến Tre qua những vụ đăng ký vượt biên lấy vàng: từ lường gạt đến thảm sát đồng bào.

Như trong phần trình bày cô đọng, ngắn ngủi ở trên, chúng ta đã thấy nỗi kinh hoàng của thế giới khi biết được những âm mưu của cộng sản Việt Nam trong chính sách xuất cảng thuyền nhân để lấy vàng. Dường như chưa có một chế độ nào trên thế giới có cái can đảm làm những việc làm tồi tệ về mặt con người như thế. Nhưng, thế giới làm sao biết được cộng sản Việt Nam có nhiều cái tồi tệ dã man nghìn lần hơn việc cho thuyền nhân ra đi để lấy vàng bỏ túi: Họ đã vét sạch vàng của thuyền nhân, một số cho mìn nổ chìm ghe khi ghe ra cửa biển, một số giam giữ lại như những tù nhân, bệnh hoạn, đói khổ và tiếp tục cho người tiếp xúc với thân nhân thuyền nhân ở Sài Gòn và tỉnh thành. Cuối cùng của màn lường gạt, sát nhân, tráo trở này là hàng trăm người chết, hàng vạn người tan nát cuộc đời... mà không đến được bờ tự do. Thế giới không hề biết chuyện này. Và nếu chuyện này đến tai LHQ và thế giới loài người văn minh, có thể họ không tin hay không tưởng tượng chuyện đó có thể xẩy ra trên trái đất này. Nhưng, sự thật là nó đã xẩy ra. Nó đã xẩy ra ở Vũng Tàu, nó đã xẩy ra ở Tiền Giang, Cần Thơ và nhiều nơi khác khi thỉnh thoảng có một chiếc ghe đăng ký bị cho nổ mìn, xác người trôi tấp lớp lớp vào bờ. Bao nhiêu người vừa mất cả vàng bạc, tài sản, vừa mất cả mạng sống. Dường như người ta, thân nhân người chết, đã câm lặng, chịu đựng oan khiên và cho những cái chết tức tưởi đó chôn sâu vào quên lãng, không một tiếng kêu than, không một lời cáo trách, kể cả những người dân ở Vũng Tàu chứng kiến hàng trăm xác đồng bào mình dạt vô bờ biển năm nào.

Người viết nghe kể, nhưng không có dữ kiện cho các trường hợp vừa kể trên ở các địa phương khác, nhưng có tạm đủ dữ kiện cho trường hợp thãm sát ở Bến Tre. Nó là trường hợp điển hình về một thứ tội ác kinh tỡm không thể bỏ qua. Chỉ một vụ này chế độ Hà Nội cũng đủ bị thế giới lên án gắt gao.

Trong hai năm liên tục, từ 1978 đến 1979, đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam, theo kế hoạch 2 hay kế hoạch B của Bộ Nội Vu, như tiết lộ của ông Bùi Tín trong Mặt Thật, đã cho thi hành chính sách bán bãi, đăng ký vượt biên lấy vàng tại nhiều nơi, mà một trong những nơi chủ yếu là tỉnh Bến Tre. Cơ quan thi hành chính sách là công an Bến Tre. Người nhận chỉ thị hoàn thành công tác đảng là Hai Chiến, trung tá công an Bến Tre.

Trong chiến dịch hốt vàng năm 1978, công an tỉnh Bến Tre đã cho phép những người đăng ký vượt biên đóng từ 6 đến 10 chiếc tàu đăng ký lớn nhỏ, có khả năng chở từ 250 người đến 4000 người. Họ bắt đầu thu vàng theo công thức mỗi người 10 lượng vàng cho nhà nước cộng sản, 2 lượng cho nhóm chủ tàu đóng tàu. Khi tàu đóng xong, sẳn sàng mọi thứ để lên đường và bắt đầu ra đi thì công an thường gửi thêm từ 100 đến 150 người nữa. Số vàng dâng nộp của nhóm sau cùng này hoàn toàn nằm trong tay của công an. Người ta không biết trong số này có bao nhiêu là thân nhân, bạn bè liên hệ với công an, bao nhiêu là thành phần nộp tiền cho công an để được gửi đi, và bao nhiêu là các cán bộ tình báo VC được cài theo ra nước ngoài cho các điệp vụ tương lai của cộng sản. Thế nhưng, theo những người đã sống ở Bến Tre, chứng kiến những cái chết thảm của đồng bào, chứng kiến những vụ tàu đăng ký ra đi... thì đa số những chuyến đăng ký ra đi có người của công an gởi kèm theo vào giờ chót đều ra biển rộng an toàn, đến nơi đến chốn. Còn lại, một số tàu không có người công an gởi theo , khi ra cửa sông Ba Lai và Hàm Luông, tàu bị nổ tan như xác pháo trên biển. Các vụ nổ mìn vỡ tàu đầy ắp thuyền nhân sau khi đã giao vàng cho cộng sản này xẩy ra năm 1978 mấy lần, có chiếc đông lên tới 600 người, tất cả đều tử nạn, lớp lớp xác người trôi tắp ngược vô bờ sông thuộc các xã Thừa Ðức, Thế Thuận, Bình Ðại tỉnh Bến Tre. Xác người lềnh bềnh trên dòng sông, xác người lềnh bền trôi ra biển, xác người lềnh bền tắp vô bờ... làm ô nhiễm, hôi thối cả một vùng dân cư sống hai bên bờ sông. Sau đó, xác người lớn, xác trẻ em bị cá ăn... và một thời gian sau đó, dân chài đã lưới được những con cá còn cả xương người trong bụng. Dân tại vùng này đã không dám ăn cá gần cả hai năm 1978 – 1979...

Thời gian lại phôi phai, sức ép của chế độ, của đói khổ, của khát vọng ra đi tìm tự do, của khát vọng tìm đất sống, đã lại dồn người ta vào những chuyến tàu đăng ký khác, cũng ở Bến Tre. Còn gì oan nghiệt hơn hở trời!

Sau các vụ cho đi thoát, cho nổ mìn thãm sát thuyền nhân trên biển, hàng chục ngàn lượng vàng được Trung tá công an Hai Chiến thu chuyển ra Bắc cho Lê Duẩn/Lê Ðức Thọ và các tay chóp bu của đảng cộng sản Việt Nam, năm 1979, nhà nước cộng sản lại cho phép đóng 12 chiếc tàu đăng ký cho số người đi dự trù khoảng 4000 người, mỗi người đóng tổng cộng 12 lượng vàng. Khi tàu đóng xong, tất cả sẳn sàng lên đường với đầy đủ lương thực, nước uống, dầu và thiết bị hải hành... thì công an Bến Tre cho hay là họ đã móc nối được một chiếc tàu sắt lớn mang cờ Panama có khả năng bốc một lược 4000 người, đi biển an toàn hơn. Chiếc Panama có mặt ở cửa biển Bình Ðại, được công an cộng sản thỏa thuận/deal với giá 2 lượng vàng mỗi người đi, vị chi là 8000 cây vàng cho số 4000 người mà công an phải giao cho nhóm điều khiển tàu Panama trước khi tàu nhổ neo. Cũng theo giải pháp này, tất cả chủ ghe của 12 chiếc ghe đóng xong phải giao cho nhà nước cộng sản. Làm một bài toán, nhà nước cộng sản Việt Nam ngồi không vẫn thu được 8 lượng vàng X 4000 = 32.000 lượng, cộng với 12 chiếc ghe đóng sẳn có đầy đủ phương tiện hải hành sẳn sàng ra đi.( Sau khi chi 2 lượng mỗi đầu người cho tàu lớn...)

Chấp nhận giải pháp được chuyển qua tàu sắt vì nghĩ sẽ được an toàn hơn trên biển, hàng 4 ngàn người đồng ý qua tàu Panama, nằm đầy các hầm tàu và boang tàu. Rồi ngày một, ngày hai... tàu không nhổ neo. Khi công an cộng sản nắm được trong tay toàn bộ số vàng khổng lồ và 12 chiếc ghe hiến lại, họ trở mặt, không thi hành những điều giao ước với tàu Panama.

Tình trạng kỳ kèo nhùng nhằng này kéo dài gần cả nửa tháng, hàng ngàn người sống chen chúc, đói khát, mất vệ sinh dưới các hầm tàu lâm vào tình trạng sống dở chết dở tuyệt vọng. Các toán công an cộng sản bắt đầu màn trấn lột vô lương kế tiếp, tàn nhẫn, lạnh lùng: họ bán từng gói thức ăn, từng lon nước uống để lột từng chỉ vàng còn sót lại của đồng bào theo kiểu "tiền trao, cháo múc", họ thả xuống hầm tàu một sợ dây cột cai lon hay chiếc móc để khi kéo lên một khâu vàng, họ mới thả xuống một lon nước hay một gói thức ăn. Màn vơ vét này có chỉ thị của bộ Nội Vụ cộng sản hay chỉ là chuyện lợi dụng của công an cấp dưới, không ai biết, nhưng nó quả đã diễn ra trước mũi công an cấp trên, công khai và tàn nhẫn. Trong thời gian đó, nhiều trẻ em và người già đã chết, và xác bị vứt xuống biển một cách lạnh lùng, không kể số người lã liệt, bệnh tật, đói khát rũ riệt đầy khoang tàu.

Không biết giữa tàu Panama và công an Bến Tre kèn cựa ra sao, công an lại trở mặt thông báo cho các nhóm tổ chức đăng ký, đòi thêm mỗi đầu người một cây vàng thì tàu mới nhổ neo ra đi. Ai còn vàng thì đóng tại chỗ, ai không vàng thì cử đại diện, mỗi người viết một cái thư cho gia đình, công an chở về Sài Gòn, gia đình cung cấp thêm hay vay mượn nộp cho đủ. Thế nhưng sau đợt vét hàng ngàn lượng vàng sau cùng này, cộng sản cũng không giao số lượng vàng mà họ thỏa thuận cho nhóm người điều khiển tàu Panama, và tàu Panama đã quyết định rời bến không chở theo bất cứ một thuyền nhân nào.

Truớc quyết định này của tàu Panama, công an Bến Tre không nhượng bộ, họ quyết định ăn hết số vàng thu được, vì nạn nhân là hàng ngàn người Việt Nam mà đa số là người Hoa... đối với cộng sản Việt Nam chỉ là cỏ rác. Hai Chiến, trung tá công an và các giới chức công an Bến Tre, có thể cả trung ương đảng ở Hà Nội, đã tìm cái cớ để chuyển hết thuyền nhân đăng ký ra khỏ tàu để tập trung ở An Nhơn, Thạnh Phú. Cái lý cớ ngụy tạo đó là: Có bọn phản động trong đám thuyền nhân. Hàng ngàn người lũ lượt chen chúc, vật vờ, bệnh hoạn đói khát như những thây ma được cộng sản dùng những ghe đăng ký đã đóng sẳn và để lại cho họ, bốc khỏi tàu Panama và chuyển lên bờ, nhốt tập trung ở An Nhơn, Thạnh Phú... Thuyền nhân lên lại đất liền như nhữngnhư những người sắp chết, họ quá đói, họ quá yếu, họ ăn cả củ non, ăn cả chuối sống và nhiều người đã chết sau đó vì bệnh hoạn tiêu chảy, thổ tả....

Ðể cho "gánh nặng người" sau khi đã bị trấn lột sạch tan biến dần, công an thả lỏng sự kiểm soát cho ai muốn trốn thì trốn, hoặc giả họ không còn nhu cầu giam giữ sau khi kế hoạch tận thu vàng đã thành công, hoặc giả công an không đủ nhân lực để kiểm soát hàng ngàn người tá túc gần như ăn xin ở An Nhơn, Thạnh Phú và các xã lân cận... Số người sống sót sau cơn ác mộng tìm cách trốn về Sài Gòn hay về quê cũ. Tàu Panama đã ra khơi. Hàng ngàn người ở lại phờ phạc, đau ốm, đói khát,trốn chui, trốn nhủi... để thảm kịch Bình Ðại, Bến Tre của chuyến đi đăng ký không thành tan biến, phai mờ dần trong căm nính và uất hận của nạn nhân, và của cả đồng bào Việt Nam trong vùng, những người đã âm thầm chia cơm xẻ áo, dang tay bảo bọc và giúp đỡ đồng bào nạn nhân khốn khổ. Biết bao nước mắt đã đổ ra trong những đêm bà con tâm sự cùng nhau. Cái ghê gớm kinh người của cộng sản Việt Nam là ở chỗ đó.

Theo ước đoán của đồng bào địa phương tại .... Bến Tre thì trong 2 năm 1978 và 1979, số người chết vì bị vỡ tàu tại cửa biển có khoảng từ 5 đến 8 ngàn người tại cửa Ba Lai, Bình Ðại... mà đa số là ghe tàu vỡ chìm đều do mìn nổ trong hầm máy. Người chịu trách nhiệm cho các "chiến dịch" vét vàng và giết người tàn độc này là trung tá công an Hai Chiến, phó công an tỉnh Bến Tre thời đó. Ngoài những chia chác tại địa phương, số vàng vét được từ những vụ ghe tàu đăng ký vượt biên cho đi lọt, hay bị thảm sát, riêng chỉ tại Bến Tre, số vàng chuyển ra Hà Nội cũng là con số khủng lồ mà khó ai biết được chính xác bao nhiêu.

Tại sao họ dám làm chuyện tày trời đó? Dường như sau 1975, khi người và đảng cộng sản Việt Nam vỗ ngực, ưởn ra đại dương gào thét "đảng cộng sản Việt Nam vô địch, bách chiến bách thắng, đánh bại một lèo ba đế quốc Pháp, Nhật, Mỹ..." thì phần còn lại của trái đất dưới mắt họ bỗng nhỏ lại, nhỏ hơn nước Việt Nam mà họ mới vừa thống trị toàn vẹn, "nhân loại và nước Mỹ im thin thít trước chiến thắng vĩ đại của đảng ta" (!)... Và từ đó họ nghĩ họ là con mãnh sư vô địch giữa rừng Phi châu toàn là nai non khật khờ, không cần dư luận thế giới, nên họ có thể ra tay làm bất cứ điều gì... mà không sợ bất cứ ai hài tội.

Tạm kết.

Sau khi cộng sản thành công trong việc cưỡng chiếm miền Nam, họ đã triệt để thực hiện công tác toàn đảng gặt hái chiến thắng bằng các nổ lực mà người dân miền Nam gọi gọn là "Vào vơ vét về". Một miền Nam sung túc, giàu đẹp, cho dù ngay cả trong chiến tranh, đã tàn lụi, héo hắt, nghèo nàn và kiệt quệ. Họ đã vắt kiệt sức sống của miền Nam. Ðánh tư sản ( Ðỗ Mười là chủ chốt) hốt vàng bạc, nhà cửa, đẩy dân đi kinh tế mới chưa đủ; tháo gỡ chở về Bắc toàn bộ tài sản của chính phủ miền Nam để lại, chưa đủ, Bộ Nội Vụ cộng sản cho thi hành kế hoạch số 2 ( kế hoạch B), theo như bài viết của ông Bùi Tín trong "Mặt Thật", để triệt vét vàng qua các vụ xuất cảng thuyền nhân. Chắc chắn trong phần tài sản kếch xù của những đảng viên cộng sản và gia đình, của tập đoàn lãnh đạo tư bản đỏ Mafia Hà Nội/Huế/SàiGòn có hiện nay... không thiếu những thỏi "vàng, máu và nước mắt" của hàng vạn thuyền nhân Việt Nam bất hạnh không đến được bờ tự do. Xin đồng bào trong và ngoài nước nhớ cho điều đó!!!

Bài viết này sẽ không có, sẽ không tới tay bạn đọc và thế giới nếu cộng sản Việt Nam còn một chút tính người là cho thuyền nhân Việt Nam một kẻ hở sau cùng để sống, để vượt biển rộng, sau khi đảngï đã thẳng tay vét sạch vàng bạc của dân, nghĩa là cho họ ra đi. Nhưng không, chứng tích tội ác của cộng sản Việt Nam trong các vụ bóc lột và thãm sát thuyền nhân một cách tàn độc, dã man, có chủ ý, có chỉ thị, có sách lược chỉ đạo.... đã cho thấy đảng cộng sản Việt nam, các nhà lãnh đạo của đảng này, từ xưa tới nay, là một tập đoàn tội ác kinh người trước mắt Thượng Ðế và lương tri nhân loại, mà dường như từ Angola cho đến Cuba, từ Bắc Hàn cho đến Liên Bang Nga thời trước... không một nhà cầm quyền nào, dù là cộng sản, lại ra tay đối với đồng bào mình dã man như cộng sản Việt Nam. Cộng sản Việt Nam là số một, về man tính, tính từ đáy địa ngục! Vì thế, chúng ta không ngạc nhiên về những cuộc thãm sát đã xẩy ra trên đất Bắc trong những vụ "cải cách ruộng đất" những năm 54, những vụ chôn sống hàng ngàn đồng bào ở Huế trong trận Mậu Thân 68.... dưới sự chỉ đạo hay đồng lõa của đảng VC.

Bài này, ngoài việc công bố trước dư luận đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước, trước dư luận thế giới như để mở một chéo màn đen đau khổ trên đầu dân tộc Việt Nam riêng về vụ thảm sát các tàu đăng ký ra đi không bao giờ đến bến. Người viết cũng xin được gửi đến tất cả những nạn nhân còn sống sót qua những vụ thảm sát, hiện sống bên trong nước hay ở các nước tự do, gửi đến thân nhân gia đình nạn nhân, và anh đặc biệt anh kỹ sư Phạm Hùng, một trong hàng ngàn người sống sót trong vụ tàu Panama ở cửa biển Bình Ðại năm xưa, khi thoát được về Sài Gòn và "vượt biên chui" đến Úc năm 1980.

Chúng tôi và thế giới cần nghe thêm những tiếng nói câm nín, uất hận của quý vị đã cầm lòng dấu kín những đau thương đó từ ¼ thế kỷ nay. Khi người viết đã bất chấp những đe dọa của tà quyền Hà Nội, đưa ra ánh sáng những vụ thảm sát này, thì không có lý do gì các tiếng nói của những nạn nhân trực tiếp lại bị chính mình tiếp tục cầm giữ trong ký ức đớn đau, oan nghiệt một thời khi quý vị đang sống dưới trời tự do...

Người viết xin nói thêm, cộng sản Việt Nam có thể viện dẫn khói súng trong chiến tranh để tàn sát hàng ngàn đồng bào Việt Nam tại Huế trong trận Mậu Thân 1968, tàn sát hàng ngàn đồng bào trên Ðại Lộ Kinh Hoàng 1972 khi di tản khỏi Quảng Trị, tàn sát vô số đồng bào trên quốc lộ 14 và liên tỉnh lộ 7B và hai bên bờ sông Ba năm 1975 trong cuộc triệt thoái Cao Nguyên..., nhưng không, muôn ngàn lần không, không có bất cứ điều gì có thể biện minh được hàng ngàn vụ hành quyết quân nhân VNCH bên trong và bên ngoài các trại tù "cải tạo" trên khắp nước sau cái gọi là "đại thắng mùa xuân 75". Và oan nghiệt hơn, lại không có bất cứ cái gì biện minh được các tội ác kinh người khi thảm sát đồng bào không một tấc sắt trong tay sau khi thu vét sạch vàng bạc, tài sản của họ, khi họ bỏ lại hết cho đảng để ra đi.

Nói như Nguyễn Chí Thiện. "Ðảng thực chất chỉ là đảng cướp!". Chưa đủ! Có cái đảng cướp nào "ưu việt" hơn đảng cộng sản Việt Nam trong nghệ thuật trấn áp, bóc lột và thảm sát người đồng chủng? Không! So với đảng cộng sản Việt Nam, các loại đảng cướp khác trên giang hồ là con số zero vĩ đại.

Và dòng cuối cùng gửi đảng cộng sản Việt Nam: Hãy thử lên tiếng phủ nhận vụ thảm sát đồng bào kinh người ở xã Tân Lập, Long Khánh ngày 22/4/1975 (trong bài tôi viết trước đây) và vụ đăng ký vượt biên ở Bến Tre trong hai năm 1978 – 1979 như vừa được đề cập trong bài này ...

* * *

Người viết mở lại đống tro, một trong những đống tro đầy hài cốt, thịt xương, máu, nước mắt của đồng bào ba miền Trung Nam Bắc Việt Nam trong dòng lịch sử cận đại. Ðống tro, vẫn còn hâm hấp nóng, chưa bao giờ nguội tàn trong tim người viết từ hơn 25 măm nay, và cảm thấy là mình có tội cho đến ngày cuối đời nếu không viết ra những dòng này. Khi tội ác của đảng cộng sản Việt Nam được phơi bày, ngày tàn của tà quyền Hà Nội sẽ đến gần dần. Xin hãy giữ lửa ấm trong những đóng tro chưa tàn...

Hải Triều
1/6/2002

Ghi chú:

1. Nguyệt San Việt Nam sẳn sàng đón nhận tất cả những đóng góp hay ý kiến bất cứ từ đâu đến, kể cả của đảng cộng sản Việt Nam, về bài viết trên đây. Và chúng tôi mong được liên lạc với những nạn nhân hay thân nhân của những đồng bào nạn nhân còn sống sót trong những vụ thãm sát mà chúng tôi viết trong bài này, đăc biệt là anh kỹ sư Phạm Hùng hiện sống bên Úc. Xin anh em bên Úc, ai biết anh Phạm Hùng, nhờ nhắn tiếp giùm.

Mọi tin tức, hình ảnh, chi tiết nhất là tên tuổi người liên lạc sẽ được giữ kín.

Chúng tôi nhận trách nhiện về bài viết và sẳn sàng đối diện với sự thực.

Xin liên lạc về Nguyệt San Việt Nam
PO.Box 74013 Hillcrest Park. PO
Vancouver. BC., V5V - 5C8, Canada
Phone/Fax: 604.8795.9022
Email: nsvietnam@yahoo.com


Trang bìa 
Ðầu trang