Tạp Chí Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt Nam Tự Do Dân Chủ
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada
Phone+Fax: (604) 875-9022 - Sau 6PM (604) 879-1179
Email: nsvietnam@yahoo.com

Cập nhật hóa hàng ngày
Chủ Biên: Hải Triều
Ðại diện nhóm Úc châu: Trương Minh Hoàng - Ðại diện nhóm Âu châu: Trần Hữu Phúc - Ðại diện nhóm Hoa Kỳ: Dương Thái Sơn - Ðại diện nhóm nội địa: Hồng Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những người góp phần đấu tranh cho một Việt Nam tự do, thực hiện bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành trên toàn thế giới.
Các Số Báo Cũ
Hà Thúc Sinh
Hoàng Ngọc Liên
Kathy Trần
Lâm Chương
Lâm Lễ Trinh
Nguyễn Thanh Hoàng
Phạm Văn Nhàn
Phan Nhật Nam
Phó Thường Dân
Sổ Tay Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Trần Viết Ðại Hưng
Tài Liệu - Góp Nhặt
Nối Kết

Bài  Mới  Nhất
CON VỊT



Tác giả Trần Gia Phụng.
In lần thứ 2 - 28CAN$/22US$


Chiến sử QLVNCH của Phạm Phong Dinh - Tái bản lần 2.
35CAN$/25US$ *


Tác giả Bùi Ngọc Tấn.
25CAN$/20US$
(Ở Mỹ bán 35US$).

* Giá bán kể cả cước phí.
Liên lạc: NS Việt-Nam.




Các tập thơ chiến đấu của 
Lê Khắc Anh Hào 
(và Ý Yên, Trần Thúc Vũ).

Nguyệt-San Việt-Nam Số 61
(Tháng 7&8/2002)

Tạp ký tháng 6/2002: Chuyện cứu nước... như sương như khói
Hải Triều

Chỉ còn vài ngày nữa là nhiều nơi trên cõi lưu vong khắp mặt đất này, các hội đoàn gốc lính sẽ tổ chức kỷ niệm ngày Quân Lực 19/6, kể cả các sinh hoạt trên Paltalk/hệ thống internet toàn cầu. Là một trong những người lính lưu vong, nhìn lại dĩ vãng, lòng dường vẫn còn nằng nặng những xương và máu, những bom và đạn, những đau thương và mất mát, những cùm gông tù tội, những tai kiếp của quê hương.. , tôi, người lính năm xưa mà nay dĩ vãng vẫn chưa phai mờ trong tâm khảm, bỗng như thấy chân mình bị thời gian dịch xích dần vào những bờ đá chông chênh mà đường đi trước mặt là chông gai, là biển rộng khi muốn vói tay qua đại dương để sờ được một chút gì trên mảnh đất thân yêu nghìn trùng xa cách. 

Tôi nghĩ đến quê hương, đến đất nước, đến những chuỗi xiềng gông còn bám chặc giải đất hình cong chữ S và thấy chuyện cứu nước bỗng như sương như khói. Nhiều lúc gần như tuyệt vọng, tôi sưỡi ấm lòng mình bằng những vần thơ, giục lòng mình bằng các bài viết... nghĩ rằng mình không tự cứu niềm tin của mình bằng chính sinh lực và trái tim còn nóng của mình thì không ai giúp mình đứng vững. Khổ nỗi, câu thơ nào, dòng chữ nào của tôi viết ra, nó không là bê tông cốt sắt, đôi lúc nó lại mềm như bún, không đủ vững cho mình vịn mà đi, mà đứng dậy mà không ngả, chưa kể đến những "hiện tượng" , những sinh hoạt đấu tranh quay cuồng ở hải ngoại hiện nay, nó cứ ma ma Phật Phật, sương sương, khói khói, nó như những cuộc cải vã của những bà bán cá dành mối ở chợ cá Trần Quốc Toản năm xưa, lời qua tiếng lại, đao to búa lớn... Và tình trạng kéo dài này đã "hề hóa và chân không hóa" các nổ lực đấu tranh hàng bao lâu nay, nó làm cho niềm tin của những kẻ còn chút lòng với quê hương như tôi nhũn đi, nó làm cho tội ác của cộng sản, tội cắt đất cho Tầu ... gần như chìm mất trên xa lô thông tin, trên các trang báo hàng ngày. Giặc có thể vào nhà chúng ta trong cơn say ngủ, tiệc tùng, trộm có thể vào nhà chúng ta khi cả nhà xào xáo... Thôi rồi! Người Tầu đã thọc cánh tay bạch tuộc vào giữa chính trị bộ Hà Nội, và các râu ria đã bắt vòi đâu đó ở các phương trời xa ... trong nổ lực bóp chết sự đề kháng của dân tộc Việt trên tiến trình "Hán hóa" phương Nam!

Trước trạng huống đó, tôi đôi lúc lại nhìn về trong nước, kỳ vọng về trong nước như tìm một cái phao để nuôi chút niềm tin, dù có biết cùng lúc, nhiều người trong nước mõi mòn lại nhìn qua đại dương, kỳ vọng những kẻ ở bên ngoài. Tiếng khóc của ông Hoàng Minh Chính sau vụ Hà Nội cắt đất cho Tầu mới đây đãlàm tôi bồi hồi thao thức mãi. Dường như nó làm lòng tôi ấm lại. Tôi thấy một đốm lửa bên kia bờ đại dương, trên quê hương, nhưng đốm lửa xa xôi quá, heo hút quá. 

Ðầu tháng 6/2002, một nhà văn quân đội có những bài viết mà VC đọc xong chắc phải uống tylenol, đã "liều mạng" về thăm nhà vì lý do gia đình. Anh đã cố làm một ít công việc có ý nghĩa là tìm hiểu về tình hình, về tâm thức những trí thức trong nước để có thể "gỡ gạc để bù đắp" những "rũi may" trong chuyến về, anh cố ý tìm cho ra câu đáp số về những câm nín của trí thức, sĩ phu miền Nam trước những bất hạnh của dân tộc, những mất mát đất đai của Tổ Quốc dưới chế độ Hà Nội. Anh đã âm thầm như một bóng ma, tiếp chuyện với nhiều nhà văn, nhà báo, sĩ phu, trí thức, một vài người gốc Bắc, một số người gốc Nam... để tâm tình. Thước đo dò của anh là đưa ra nỗi đau của đất nước. Họ, những kẻ sĩ trong nước, có đủ phương tiện để nghe ngóng, thông tin qua báo chí, radio, TV và các phương tiện tin học hiện đại như hệ thống internet bây giờ., biết hết. Họ có bức xúc, họ có tức giận, họ có nhận thức hậu quả, nguyên nhân, ai là thủ phạm... trước những tan nát, đổ vỡ của đất nước, nhưng họ không dám làm gì cả, họ câm nín, nói về số đông. Tôi không ngạc nhiên tại sao nhà văn Dương Thu Hương sử dụng những ngôn ngữ nặng lời đối với họ: "trái tim chó" khi nói về đa số trí thức trong nước.

Bạn tôi, nhà văn vừa trở lại Hoa Kỳ bình an vô sự, đã nói với tôi là anh bàng hoàng đến tuyệt vọng về những điều mà anh khám phá được: Sự tê liệt ghê gớm của khả năng và nhận thức phản kháng. Theo anh nhận xét, năm tháng bào mòn họ vàhọ bị đè nén dưới kỷ thuật trấn áp tinh vi của đảng cộng sản Việt Nam, sức bật của đa số trí thức và sĩ phu Việt Nam đã không còn bao nhiêu. Họ như những chiếc lò so mất sức co dãn, sức bật của lý trí cùn mòn, chỉ còn lại một chút rung động qua tiếng thở dài. Nó không đủ dấy lên một cuộc cách mạng hay Thiên An Môn như ở Tầu, nó hèn nhược vô cùng so với một thứ bất khuất của một Nguyễn Biểu, của một Trần Quốc Tuấn thuở trước, của một Lê Chí Quang, Bùi Minh Quốc, Ðặng Hồng Sơn thời nay... và họ cũng không dám có cả đến một lời than não ruột bi tráng của một Ðặng Dung "Quốc thù vị báo đầu tiên bạch. Kỷ độ Long tuyền đái nguyệt ma!"...chỉ vì sợ bể nồi gạo, vì sợ ở tù. Cộng sản đã xây dựng thêm hệ thống nhà tù kềm kẹp song song với việc mở rộng các phương tiện ăn chơi, trác táng từ Sài Gòn ra tới Hà Nội. Cả hai đều mở rộng...

Trong vài nước cộng sản đếm trên đầu ngón tay còn sót lại trên trái đất, Việt Nam và Bắc Hàn là hai mô hình xã hội mà chế độ thành công tối đa trong kỷ thuật đè nén con người. Ðứng trên bình diện dân tộc, các chế độ loại này phải bị càn quét không thương tiếc,bằng bất cứ giá nào. Dường như nhận định này càng ngày càng lan rộng trong khắp nước sau ngày Hà Nội cắt đất cho Tầu. Tín hiệu này thấy được qua các email của đồng bào trong nước, kể cả các thành phần thanh niên, sinh viên và cán bộ cộng sản còn chút niềm tự hào dân tộc ký tên tập thể chống việc Lê Khả Phiêu, Nông Ðước Mạnh, Trần Ðức Lương... triều cống đất đai của đất nước cho phương Bắc.

Trong số những email gửi từ trong nước về vụ trên, người ta chú ý đến tiếng nói của những tập thể ngư dân Việt Nam hiền lành, khi tầu thuyền đánh cá của họ dụng với hải quân Trung cộng, và bị xua đuổi ngay trên những vùng biển Việt Nam mà cả đời cha ông họ hành nghề. Trung cộng đã ra thông báo tập trận bằng đạn thật ngay trên những vùng lãnh hải của Việt Nam. Hà Nội la làng lấy lệ, và họ cúi mặt trước những phẩn uất của đồng bào.

Nhớ lại những ngày năm xưa, khoảng thời gian hai năm 1978 và 1979 hùng hổ núp bóng cờ Liên Sô chống bá quyền Trung quốc, cộng sản Việt Nam đã đặt pháo binh nòng chĩa ra biển trên những địa thế dự liệu có thể bị hải quân Trung cộng tấn công vào đất liền. Tại các tỉnh duyên hải miền Nam, riêng tại Lầu ông Hoàng Phan Thiết ( nơi Hàn Mặc Tử viết những vần thơ trăng ướt lệ cho Mộng Cầm...), cộng sản cũng đã đặt một đơn vị pháo binh chĩa nòng ra viển, canh gác cẩn mật và nghiêm trọng, tưởng chừng quân "đồng chí" Tầu đỏ có thể đổ bộ vào Phú Hài, Ðá Ông Ðịa hay Mũi Né trong một ngày nào đó. Giờ đây, ngư dân Bình Thuận, Phú Quý, Nha Trang, Phú Yên, Ðà Nẳng... ra biển đánh cá bị Tầu cộng đuổi vô... thì tà quyền Việt cộng dậm chân la hoảng lấy lệ. Không thấy một khẩu súng đặt chong ra biển, không thấy một chiến hạm "hải quân quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng" nào dám lảng vảng ra khơi cho dân chài được thấy bóng dáng những kẻ giữ gìn "biển bạc" Việt Nam...

Những dòng này được viết đưa lên net hôm nay, trước ngày 19/6, ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, người viết nhìn lên bản đồ Việt Nam trước mặt, biển bọc dài một vòng cung chữ S và bỗng chợt bàng hoàng như thấy cả một quê hương đang bị giặc uy hiếp từ biển đông lẫn từ vùng cương thổ phía Bắc; nhìn về Hoàng Sa, dường như cuộc hải chiến chống Bắc phương tháng Giêng 1974 của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn dậy sóng trên bản đồ. Hận uất, bồi hồi.

Một phần đất nước đã mất. Kẻ không đau là kẻ không còn là người. Cơ nguy diệt vong của giống nòi đã và đang thành hình từ những chữ ký ngoằn nghèo của Ðường Gia Truyền và Lê Khả Phiêu/Trần Ðức Lương trên những văn kiện bán nước, kẻ biết mà không lo, kẻ đó cũng không phải là người.

Ôi lịch sử oai linh, cách mạng Việt Nam đâu chỉ là huyền thoại?

Chế độ này như căn nhà xiêu vênh trên giốc
Chỉ cần một cơn gió lốc
Bạn bè ơi!
Có sẳn gió trong lòng?!

(Nguyễn Mậu Lâm)

Người viết xin gửi mấy dòng thơ của Nguyễn Mậu Lâm đến tất cả mọi người.

Hải Triều
(Viết nhân ngày Quân Lực 19/6/2002)


Trang bìa 
Ðầu trang