Tạp
ký tháng 6/2002: Chuyện cứu nước...
như sương như khói
Hải Triều
Chỉ
còn vài ngày nữa là nhiều
nơi trên cõi lưu vong khắp mặt
đất này, các hội đoàn
gốc lính sẽ tổ chức kỷ
niệm ngày Quân Lực 19/6, kể cả
các sinh hoạt trên Paltalk/hệ thống
internet toàn cầu. Là một trong những
người lính lưu vong, nhìn lại
dĩ vãng, lòng dường vẫn
còn nằng nặng những xương
và máu, những bom và đạn,
những đau thương và mất
mát, những cùm gông tù tội,
những tai kiếp của quê hương..
, tôi, người lính năm xưa
mà nay dĩ vãng vẫn chưa phai mờ
trong tâm khảm, bỗng như thấy chân
mình bị thời gian dịch xích dần
vào những bờ đá chông
chênh mà đường đi trước
mặt là chông gai, là biển rộng
khi muốn vói tay qua đại dương
để sờ được một
chút gì trên mảnh đất thân
yêu nghìn trùng xa cách.
Tôi nghĩ đến
quê hương, đến đất nước,
đến những chuỗi xiềng gông
còn bám chặc giải đất hình
cong chữ S và thấy chuyện cứu
nước bỗng như sương như
khói. Nhiều lúc gần như tuyệt
vọng, tôi sưỡi ấm lòng
mình bằng những vần thơ, giục
lòng mình bằng các bài viết...
nghĩ rằng mình không tự cứu
niềm tin của mình bằng chính sinh
lực và trái tim còn nóng của
mình thì không ai giúp mình đứng
vững. Khổ nỗi, câu thơ nào,
dòng chữ nào của tôi viết
ra, nó không là bê tông cốt
sắt, đôi lúc nó lại mềm
như bún, không đủ vững cho
mình vịn mà đi, mà đứng
dậy mà không ngả, chưa kể đến
những "hiện tượng" , những
sinh hoạt đấu tranh quay cuồng ở
hải ngoại hiện nay, nó cứ ma ma
Phật Phật, sương sương, khói
khói, nó như những cuộc cải
vã của những bà bán cá
dành mối ở chợ cá Trần
Quốc Toản năm xưa, lời qua tiếng
lại, đao to búa lớn... Và tình
trạng kéo dài này đã "hề
hóa và chân không hóa" các
nổ lực đấu tranh hàng bao lâu
nay, nó làm cho niềm tin của những
kẻ còn chút lòng với quê
hương như tôi nhũn đi, nó
làm cho tội ác của cộng sản,
tội cắt đất cho Tầu ... gần
như chìm mất trên xa lô thông
tin, trên các trang báo hàng ngày.
Giặc có thể vào nhà chúng
ta trong cơn say ngủ, tiệc tùng, trộm
có thể vào nhà chúng ta khi cả
nhà xào xáo... Thôi rồi! Người
Tầu đã thọc cánh tay bạch tuộc
vào giữa chính trị bộ Hà
Nội, và các râu ria đã bắt
vòi đâu đó ở các
phương trời xa ... trong nổ lực
bóp chết sự đề kháng
của dân tộc Việt trên tiến trình
"Hán hóa" phương Nam!
Trước trạng
huống đó, tôi đôi lúc
lại nhìn về trong nước, kỳ
vọng về trong nước như tìm
một cái phao để nuôi chút niềm
tin, dù có biết cùng lúc, nhiều
người trong nước mõi mòn
lại nhìn qua đại dương, kỳ
vọng những kẻ ở bên ngoài.
Tiếng khóc của ông Hoàng Minh Chính
sau vụ Hà Nội cắt đất cho Tầu
mới đây đãlàm tôi
bồi hồi thao thức mãi. Dường
như nó làm lòng tôi ấm lại.
Tôi thấy một đốm lửa bên
kia bờ đại dương, trên quê
hương, nhưng đốm lửa xa xôi
quá, heo hút quá.
Ðầu tháng
6/2002, một nhà văn quân đội có
những bài viết mà VC đọc
xong chắc phải uống tylenol, đã "liều
mạng" về thăm nhà vì lý do
gia đình. Anh đã cố làm một
ít công việc có ý nghĩa là
tìm hiểu về tình hình, về tâm
thức những trí thức trong
nước để có thể "gỡ
gạc để bù đắp" những
"rũi may" trong chuyến về, anh cố ý
tìm cho ra câu đáp số về những
câm nín của trí thức, sĩ
phu miền Nam trước những bất
hạnh của dân tộc, những mất
mát đất đai của Tổ Quốc
dưới chế độ Hà Nội.
Anh đã âm thầm như một bóng
ma, tiếp chuyện với nhiều nhà
văn, nhà báo, sĩ phu, trí thức,
một vài người gốc Bắc,
một số người gốc Nam... để
tâm tình. Thước đo dò của
anh là đưa ra nỗi đau của đất
nước. Họ, những kẻ sĩ
trong nước, có đủ phương
tiện để nghe ngóng, thông tin qua báo
chí, radio, TV và các phương tiện
tin học hiện đại như hệ thống
internet bây giờ., biết hết. Họ
có bức xúc, họ có tức
giận, họ có nhận thức hậu
quả, nguyên nhân, ai là thủ phạm...
trước những tan nát, đổ
vỡ của đất nước,
nhưng họ không dám làm gì cả,
họ câm nín, nói về số đông.
Tôi không ngạc nhiên tại sao nhà
văn Dương Thu Hương sử dụng
những ngôn ngữ nặng lời
đối với họ: "trái tim chó"
khi nói về đa số trí thức
trong nước.
Bạn tôi, nhà
văn vừa trở lại Hoa Kỳ bình
an vô sự, đã nói với
tôi là anh bàng hoàng đến
tuyệt vọng về những điều
mà anh khám phá được: Sự
tê liệt ghê gớm của khả
năng và nhận thức phản kháng.
Theo anh nhận xét, năm tháng bào mòn
họ vàhọ bị đè nén dưới
kỷ thuật trấn áp tinh vi của đảng
cộng sản Việt Nam, sức bật của
đa số trí thức và sĩ
phu Việt Nam đã không còn bao nhiêu.
Họ như những chiếc lò so mất
sức co dãn, sức bật của
lý trí cùn mòn, chỉ còn lại
một chút rung động qua tiếng thở
dài. Nó không đủ dấy lên
một cuộc cách mạng hay Thiên An Môn
như ở Tầu, nó hèn nhược
vô cùng so với một thứ
bất khuất của một Nguyễn Biểu,
của một Trần Quốc Tuấn thuở
trước, của một Lê Chí Quang,
Bùi Minh Quốc, Ðặng Hồng Sơn
thời nay... và họ cũng không
dám có cả đến một lời
than não ruột bi tráng của một Ðặng
Dung "Quốc thù vị báo đầu
tiên bạch. Kỷ độ Long tuyền đái
nguyệt ma!"...chỉ vì sợ bể nồi
gạo, vì sợ ở tù. Cộng
sản đã xây dựng thêm hệ
thống nhà tù kềm kẹp song song với
việc mở rộng các phương tiện
ăn chơi, trác táng từ Sài
Gòn ra tới Hà Nội. Cả hai đều
mở rộng...
Trong vài nước
cộng sản đếm trên đầu
ngón tay còn sót lại trên trái
đất, Việt Nam và Bắc Hàn là
hai mô hình xã hội mà chế độ
thành công tối đa trong kỷ thuật
đè nén con người. Ðứng
trên bình diện dân tộc, các chế
độ loại này phải bị càn
quét không thương tiếc,bằng bất
cứ giá nào. Dường như
nhận định này càng ngày càng
lan rộng trong khắp nước sau ngày
Hà Nội cắt đất cho Tầu. Tín
hiệu này thấy được qua các
email của đồng bào trong nước,
kể cả các thành phần thanh niên,
sinh viên và cán bộ cộng sản
còn chút niềm tự hào dân
tộc ký tên tập thể chống việc
Lê Khả Phiêu, Nông Ðước
Mạnh, Trần Ðức Lương... triều
cống đất đai của đất
nước cho phương Bắc.
Trong số những
email gửi từ trong nước về
vụ trên, người ta chú ý
đến tiếng nói của những
tập thể ngư dân Việt Nam hiền lành,
khi tầu thuyền đánh cá của
họ dụng với hải quân Trung cộng,
và bị xua đuổi ngay trên những
vùng biển Việt Nam mà cả đời
cha ông họ hành nghề. Trung cộng đã
ra thông báo tập trận bằng đạn
thật ngay trên những vùng lãnh
hải của Việt Nam. Hà Nội la làng
lấy lệ, và họ cúi mặt trước
những phẩn uất của đồng
bào.
Nhớ lại những
ngày năm xưa, khoảng thời gian
hai năm 1978 và 1979 hùng hổ núp
bóng cờ Liên Sô chống bá
quyền Trung quốc, cộng sản Việt Nam
đã đặt pháo binh nòng chĩa
ra biển trên những địa thế
dự liệu có thể bị hải quân
Trung cộng tấn công vào đất
liền. Tại các tỉnh duyên hải
miền Nam, riêng tại Lầu ông Hoàng
Phan Thiết ( nơi Hàn Mặc Tử viết
những vần thơ trăng ướt
lệ cho Mộng Cầm...), cộng sản cũng
đã đặt một đơn vị
pháo binh chĩa nòng ra viển, canh gác
cẩn mật và nghiêm trọng, tưởng
chừng quân "đồng chí" Tầu
đỏ có thể đổ bộ vào
Phú Hài, Ðá Ông Ðịa
hay Mũi Né trong một ngày nào đó.
Giờ đây, ngư dân Bình Thuận,
Phú Quý, Nha Trang, Phú Yên, Ðà
Nẳng... ra biển đánh cá bị
Tầu cộng đuổi vô... thì tà
quyền Việt cộng dậm chân la hoảng
lấy lệ. Không thấy một khẩu súng
đặt chong ra biển, không thấy một
chiến hạm "hải quân quân đội
nhân dân Việt Nam anh hùng" nào dám
lảng vảng ra khơi cho dân chài được
thấy bóng dáng những kẻ giữ
gìn "biển bạc" Việt Nam...
Những dòng
này được viết đưa lên
net hôm nay, trước ngày 19/6, ngày
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, người
viết nhìn lên bản đồ Việt
Nam trước mặt, biển bọc dài
một vòng cung chữ S và bỗng
chợt bàng hoàng như thấy cả
một quê hương đang bị giặc
uy hiếp từ biển đông lẫn
từ vùng cương thổ phía Bắc;
nhìn về Hoàng Sa, dường như
cuộc hải chiến chống Bắc phương
tháng Giêng 1974 của Hải Quân Việt
Nam Cộng Hòa vẫn còn dậy sóng
trên bản đồ. Hận uất, bồi
hồi.
Một phần đất
nước đã mất. Kẻ không
đau là kẻ không còn là người.
Cơ nguy diệt vong của giống nòi đã
và đang thành hình từ những
chữ ký ngoằn nghèo của Ðường
Gia Truyền và Lê Khả Phiêu/Trần
Ðức Lương trên những
văn kiện bán nước, kẻ biết
mà không lo, kẻ đó cũng không
phải là người.
Ôi lịch sử
oai linh, cách mạng Việt Nam đâu chỉ
là huyền thoại?
Chế độ
này như căn nhà xiêu vênh trên
giốc
Chỉ cần một
cơn gió lốc
Bạn bè ơi!
Có sẳn gió
trong lòng?!
(Nguyễn Mậu Lâm)
Người viết
xin gửi mấy dòng thơ của Nguyễn
Mậu Lâm đến tất cả mọi
người.
Hải Triều
(Viết nhân ngày
Quân Lực 19/6/2002)
|