Hồ
Sơ Ðen Của Cộng Sản Việt Nam
(Nguyên tác: Viet
Nam: Le Dossier Noir du Communisme - Tác giả: Michel Tauriac)
Những Con Bò
Sữa
"Thuyền Nhân". Cái
danh từ có một âm tự mà
mỗi khi chính quyền Cộng Sản ở
Hà Nội nghe đến nó thì họ
nghĩ đến danh từ "đồng
đô la". Thế nhưng cho đến bao
giờngười ta mới biết
hết được những bất
hạnh đã xảy ra cho danh từ đó?
Mặc dù danh từ "Thuyền Nhân"
xuất hiện lần đầu tiên trên
tờ báo New York Times bởi ngòi
bút của ký giả Henry Kamm, nhưng ai
cũng biết cuộc di tản bằng đường
biển của người tỵ nạn Việt
Nam đã bắt đầu ngay từ
khi các phương tiện bỏ chạy bằng
đường bay không còn hữu
hiệu nữa vì Sài Gòn đã
bị Cộng Sản chiếm đóng vào
ngày 30 tháng Tư năm 1975. Một trong
những nhóm người đầu
tiên rời khỏi Việt Nam, bằng
đường biển vào ngày mất
nước hôm đó, là những
người tỵ nạn Cộng Sản. Họ
thả xuôi theo giòng nước sông
Cửu Long ra đến cửa biển
Cần Thơ, một thành phố lớn
nhất vùng châu thổ, trên hai chiếc
tầu nhỏ và một chiếc ghe, cùng
với hai mười người
Mỹ và trong đó có cả Tổng
Lãnh Sự Mc Namarạ Cùng trong ngày
hôm đó, chiếc chiến hạm Mỹ
tên là Mobile, nằm ở cửa
biển sông Sài Gòn, đã thấy
có đến hai mươi chiếc tầu
đánh cávà một chiếc tầu
chở hàng cũ chứa đầy
người tỵ nạn. Những người
tiền phong cho cả một đám đông
khổng lồ ra với hành trang tuyệt
vọng.
Ngày hôm sau, thứ
Năm, mồng Một, tháng Năm, năm
1975. Ðệ Thất Hạm Ðội Hoa Kỳ,
ở cách bờ biển 35 dặm,
đã chứng kiến một đoàn
27 chiếc tầu nhỏ ào ạt tắp
đến từ đảo Phú Quốc,
một hòn đảo nhỏ cách Việt
Nam 25 dặm. Trên khoang những chiếc tầu,
có gần 30,000 người tỵ nạn,
trong số 50,000 người mà Thủ
Tướng VNCH đã quyết định
cho di tản đên đảo này từ
hai ngày sau khi Thủ Ðô Sài Gòn
thất thủ. Rạng đông ngày thứ
Sáu, mồng Hai, Tháng Năm, năm 1975,
trên tầu Blue Ridge, chiếc chiến hạm
chỉ huy của Hạm Ðội VII với
46 đơn vị, đã mang đến
25,000 người Sài Gòn trong số
những người cuối cùng có
thể thoát khỏi thành phố bị
bao vâỵ Trên thành tầu, những
người thủy thủ nghiêng mình
nhìn xuống một cảnh tượng
kinh hoàng mà họ không dám tin là
sự thật: mặt biển được
bao phủ bởi hàng ngày ... và
hàng ngàn chiếc thuyền ghe đủ
loại đủ cỡ, từ những
chiếc xà lan già nua rỉ sét cho đến
những chiếc thuyền đánh cá
tý hon mỏng manh và lố nhố đầy
người trên khoang thuyền. Những
ký giả được tầu Blue Ridge
cứu lên đã ước lượng
là có đến khoảng 100,000 người,
đó là con số những "Thuyền
Nhân" đầu tiên trong lịch sử
người Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản.
Từ đêm
hôm đó cho đến rạng đông
ngày mồng Ba tháng Năm, năm 1975,
lần lượt các nước láng
giềng gần ranh giới Việt Nam cũng
đã đón nhận được
những người đầu tiên
bỏ trốn ra khỏi nước mà
hành lý mang theo là hai bàn tay trắng
với trái tim rướm máu
và một tâm hồn tuyệt vọng. Sau
này, trước sự vượt
biên thường xuyên của họ,
chính những quốc gia này đã
đành phải đẩy họ trở
ra biển để trả lại tử thần
vì không còn cách nào khác
hơn được. Một chiếc tầu
8,000 tấn, có tên là Ðông
Hải, đã mở đầu con đường
hải lộ bi thương này khi thả lên
Singapour một nhóm 822 người tỵ
nạn. Trong khi đó, ngày mồng, Bốn,
tháng Năm, năm1975, 4,500 người
khác, trong số có 1000 thiếu nhi, được
lên tầu Ðan Mạch Clara Maersk. Họ đã
rất may mắn vì chiếc thương thuyền
chở họ, có tên là Trường
Xuân, đã rời khỏi Việt
Nam ngay trước mắt Cộng Sản, và
còn đang ở trong tình trạng sửa
chữạ Khi sắp bị chìm thì
tầu Trường Xuân được
chiếc tầu cứu tinh này từ
phương Bắc đến gần và
cứu vớt.
Tổng cộng, có
khoảng hơn 200,000 người tỵ nạn
Việt Nam đã trốn ra khỏi nước
trong những ngày đầu tiên của
tháng Năm. Khoảng 130,000 người
được Hoa Kỳ tiếp nhận sau
khi qua trạm Phi Luật Tân hay đảo Guam,
một hòn đảo nằm ở vùng
biển Thái Bình Dương mà trước
đây có căn cứ Hải Quân
của Mỹ. Những người khác,
thường thì họ mang hai quốc tịch
Việt Nam và Pháp nên đã được
đi Pháp. Trong số những làn
sóng người tỵ nạn đầu
tiên có rất nhiều kỹ sư, chuyên
viên đủ nghành, và y sĩ, họ
đều quan ngại đến sự thù
ghét mà Cộng Sản dành cho giai cấp
của họ.
Kể từ năm
1975 đến năm 1977, làn sóng "Thuyền
Nhân" đã gia tăng đều đặn,
và các trại tỵ nạn cũng đã
được Phủ Cao Ủy Liên Hiệp
Quốc (HCR) đều đặn mở
ra tại Thái Lan, Mã Lai, Phi Luật Tân,
và Nam Dương hàng ngày đều
có thêm người tỵ nạn mới
nhập trạị Các quốc gia Tây Phương
đã rộng rãi chấp nhận một
số đông người tỵ nạn
đến tạm trú như Pháp, Hoa Kỳ,
Gia Nã Ðại, và Úc Ðại
Lợi (bỏ ra nhiều thời gian hơn
để quyết định), ngoài ra còn
có thêm một số quốc gia Âu
Châu ở bên ngoài bức màn
sắt.
Cho đến đầu
năm 1976, Cộng Sản Việt Nam lại càng
thêm cứng rắn và sắt máu
với người dân. Những
lời hứa hẹn về "hoà hợp
hoà giải dân tộc" đã vĩnh
viễn bay biến, và các trại cải
tạo tập trung đầy ắp người,
dân chúng miền Nam bị công an Cộng
Sản theo sát như hình với bóng,
và mấy chục ngàn người
dân thành phố bị đày ải
đi đến các vùng khô cằn
sỏi đá hay rừng thiêng nước
độc mà Cộng Sản Việt Nam che đậy
bằng danh từ hoa mỹ là "vùng
kinh tế mới", mà ở đó
người dân bước vào
kinh tế vô sản với kiếp sống
đọa đày và khốn khổ.
Cùng trong khi đó thì "luật cải
cách ruộng đất" đã tước
đoạt hết đất đai của
nông dân. Do đó mà người
dân Việt Nam đã bất chấp thất
cả mọi thử thách kể cả những
kho khăn nguy hiểm ngày càng chồng
chất, thậm chí có thể bị tù
đày hay giết chết, họ vẫn
cứ lén lút và chen chúc nhau,
từng đêm đi chôn dầu vượt
biên, và đuà giỡn với
tử thần trên các bờ bãị
Vào năm 1977, đã có hơn 10,000
"Thuyền Nhân" - danh từ này đã
trở nên thông dụng - đến
Thái Lan và Mã Laị Các trại
tỵ nạn đã phải mở rộng
thêm ra và các xứ sở đầu
tiên tạm dung họ bắt đầu khó
chịụ Và chỉ có một nửa
đơn thỉnh nguyện di trú được
các nước Tây Phương chấp
thuận.
Thừ cuối năm
1977 đến đầu năm 1978, tình
trạng lại càng thê thảm hơn. 80,000
thuyền nhân đến bờ biển
các nước miền Ðông và
Ðông Nam Á Châu, thì có đến
70,000 người đổ xô vào
chỉ riêng một nước Thái Lan.
Ðó là thời điểm mà
tiếng đại bác nổ dữ dội
ở vùng biên giới Việt-Hoa,
và "đàn anh Trung Cộng" đang vác
gánh nặng ở vùng biên giới
phía Nam vì những cuộc giao tranh giữa
quân Khờ Me Ðỏ và bộ đội
Cộng Sản Việt Nam. Biến cố này
đã khiến cho 300,000 người Hoa
Kiều bỏ trốn. Hoa Kiều ở miền
Bắc thì chạy bộ vượt biên
giới sang Trung Cộng, Hoa Kiều ở
miền Nam thì dùng đường
biển mà chạy lấy mạng. Cộng Sản
Hà Nội lên án Bắc Kinh là
muốn phá hoại tình trạng kinh tế
Việt Nam khi chiếm! mất số dân cư
rất năng động kia, mà đa số
họ là đa ng nắm huyết mạch tiền
tệ và thương mại thời đó.
Con hát mạt hạng của Ðảng Cộng
Sản Việt Nam, Nguyễn Khắc Viện lại
rống lên những điệp khúc
rẻ tiền do các quan thày của hắn
ở Bắc Bộ Phủ đã soạn
sẵn bài bản (SuđVietnam au fil des années,
241. Éditions en langues étrangères, Hanoi, 1984.):
Các gián điệp Trung Hoa dưới
sự điều động trực tiếp
của tòa đại sứ Trung Hoa ở
Hà Nội đã xúi giục người
Hoa Kiều hồi hương "nơi đó
nhà nước sẵn sàng đón
rước họ để tham gia lao động
tái thiết "Ðại Trung Quốc". Họ
nói là người Việt Nam sẽ
tàn sát họ một khi tiếng đại
bác đầu tiên phát nổ ở
vùng biên giới Việt-Hoạ Như
thế, đối với các đảng
viên Cộng Sản Việt Nam, nếu hàng
trăm ngàn đồng hương của
họ bỏ xứ trốn đi, thì luôn
luôn là do bởi sự xúi giục
từ "mạng lưới ngâØm"
của những người nước
ngoài đáng ghét.
Mặc dù bên
ngoài thì che đậy như thế, nhưng
trên thực tế thì phỉ quyền
Cộng Sản ở Hà Nội đã
tìm ra hai mối lợi: một cơ hội
để dứt bỏ một số dân
chúng rất dễ trở nên nguy hiểm
trong trường hợp chiến tranh vùng
biên giới gây bất lợi,
và một cơ hội khác là để
nhét đầy túi tiền. Họ đã
làm tiền người ra đi sau khi
thẳng tay bóc lột sạch sẽ đủ
mọi thứ. ngày 24, tháng 3, năm
1978, Cộng Sản Việt Nam bắt đầu
tung công an ra tấn công tài sản của
"giới tư sản mại bản" ở
Chợ Lớn, khu vực người
Hoa-Kiều tại Sài Gòn. Tất cả
tài sản của cộng đồng người
Hoa Kiều đều bị "quốc hữu
hóa" đồng lúc với tư
doanh. Bàn ghế, nhà cửa, nữ
trang, qúy thạch, đồ sứ đắt
tiền, và đòØ dùng các
thứ đều trở thành "tài
sản nhân dân". Kho tàng của chiến
tranh, mà Cộng Sản Hà Nội hy vọng
như vậy, để bù trừ các
hậu qủa của việc bỏ trốn gây
ảnh hưởng đến nền kinh
tế quốc giạ Không cần phải
phí phạm một giây khắc suy nghĩ
nào, người ta cũng có thể
hiểu được rằng việc đó
sẽ đưa Cộng Sản Việt Nam vào
chỗ bế tắc sau nàỵ
Vì bị khốn
đốn trong tuyệt vọng, người
Hoa Kiều đã bắt buộc phải đặt
chân lên những con tầu. Người
ta còn nhớ câu chuyện chiếc
tầu hàng hải cũ kỹ tên là
Hồng Hải sắp bị chìm trong hải
cảng Klong ở Mã Lai, với 2,500
hành khách mà phần lớn là
người Việt gốc Hoa, đã
bị khước từ không cho lên
bờ. Thảm cảnh này đã
làm rúng động lương tâm
thế giới và thúc đẩy
xu hướng cứu cấp của người
Tây Phương. Một trong số đó
là một y sĩ người Pháp,
một cựu đảng viên đã
ly khai Ðảng Cộng Sản, ông ta đã
tìm cách đền bù lỗi lầm
vì đã hoạt động cho Cộng
Sản bằng cách mua một chiếc tầu
dùng để ra biển Ðông vớt
người tỵ nạn, mặc dù các
"cựu đồng chí" của ông thấy
động cơ đó không đúng
chỗ. Sự ra đi của tất cả
những hành khách không ngày
về đó đã được
tổ chức trong bóng tối, mà
mỗi người đều phải mang
nợ để đáp ứng yêu
sách vô hạn định. Dù cho có
phải là Hoa Kiều hay không, ngày
nay người ta đều có thể
rời khỏi Việt Nam "bán chính
thức", cho dù người Hoa Kiều
bị cưỡng bách hay là do tự
ý ra đi như tất cả mọi người,
họ đều muốn chạy thoát khỏi
nanh vuốt của kẻ áp bức là
Cộng Sản Việt Nam.
Ðể che đậy
tội ác và lừa bịp thế
giới, Cộng Sản Hà Nội lên
tiếng xuyên tạc sự thật rằng:
Làm sao dám giả định là các
thuyền nhân trốn lánh một sự
áp bức thường trực?
Bọn này chỉ tuân theo mệnh lệnh
của Washington và muốn phá hoại nền
kinh tế nước nhà bằng cách
tước đoạt lấy chất xám.
Và những luận điệu này
đã được chúng lập
đi lập lại nhiều lần với
báo chí Tây Phương. Chưa hết,
mỗi ngày, tên bác sĩ Việt Cộng
hành nghề con hát tên Nguyễn Khắc
Viện, đều kể lể trong bản thông
tin của bọn Phỉ Quyền Cộng Sản
và trên các tài liệu tuyên
truyền của chúng dành cho "người
nước ngoài" rằng: Hoa Kỳ đã
đề nghị cùng những người
vượt biên là sẽ chở
họ đi với giá từ khoảng
2,000 đến 3,000 đô la, đến
tận các tầu Hải Quân Mỹ đậu
ngoài khơi chờ đón. Những
chuyên viên giỏi và trí thức
thì không phải trả tiền gì cả,
hắn ta còn dám xác nhận rằng:
"Giờ đây chúng tôi có
thể quả quyết rằng nhà nước
không cưỡng bức một ai phải
bỏ xứ ra đi, và cũng không
giữ một ai muốn ra nước ngoài
sinh sống."
Thật vậy, nếu
một vài người bị "lầm lạc"
bởi các "lực lượng phản
động ở trong nước và
ngoài nước", hắn ta còn thêm
vào, đó là vì "họ không
có can đảm đi khai khẩn các
vùng đất mới." Nguyễn Khắc
Viện đưa ra thí dụ của một
đồng nghiệp bác sĩ, dưới
chế độ cũ thì ông bạn
đồng nghiệp này "đi xe ô tô
và sống trong vi la có gắn máy
lạnh" và trở thành "quản lý
của một bệnh viện công". Như thế
thì làm sao người này có
thể sống trong một "xã hội mới",
thích nghi với một "xã hội cách
mạng"? Còn về phần nhà nước,
tuy rất tiếc khi thấy những người
này ra đi, nhưng không thể làm
được gì khác hơn là
cầu chúc cho họ được thượng
lộ bình an.
Những bài
diễn văn kiểu ngụy biện và xuyên
tạc như trên, chúng ta thường
thấy xuất hiện dưới ngòi
bút của các ký giả Cộng Sản,
là những người duy nhất
vào thời điểm đó được
ra vào Việt Nam, đóng kín ở
phía sau bức màn sắt đầy
đe dọa, từ tháng Năm, năm
1975, như một con nhím đang dương những
cọng gai nhọn hoắt. Và hai mươi
năm sau, nó vẫn còn nằm trong cửa
miệng của một vài tay bình luận
Tây Phương. Thí dụ như miệng
của một phóng viên báo Pháp
Ðức, Arte [Le Grand Documentaire, ngày 11,
tháng 2, 1995], đã chứng kiến
cảnh đào thủy lợi bằng
tay không của "những người
dân can đảm của mười làng
ra công hợp sức", và tìm
được trong "cái thú vị của
sự nỗ lực chung", và để
giải thích lý do tại sao mà nhiều
vạn người khác quyết định
trốn khỏi nước Việt Nam Cộng
Sản, thì hắn ta châm biếm rằng
họ không thể "có cái cảm giác
xây dựng quê hương xứ
sở, như là cha ông họ đã
từng đánh giặc bằng vũ
khí trên tay".
Chỉ có những
con hát mới biết mặt thật của
họ ở phía sau lớp phấn
son, và chỉ có Cộng Sản mới
biết sự thật của họ ở
phía sau bức màn sắt; do đó
một cựu đại tá Việt Cộng
như Bùi Tín thì dĩ nhiên là
phải biết rõ Việt Cộng hơn một
tên phóng viên của tờ báo
Arte.ï Ông Bùi Tín giải thích
điều đó trong quyển sách "Vietnam,
La face cachée du regime", [147, Kergour, 1999], viết ít
lâu sau khi ông đến lưu vong tại
Paris. Việc hối lộ của các người
Hoa Kiều ra đi "bán chính thức"
được chính bộ Nội Vụ tổ
chức. Ðược biết đó
là "Kế Hoạch 2", mà mục đích
được giữ kín, có cả
một loạt những công tác cho phép
các giới chức tổ chức
cuộc ra đi của các người
lưu vong mới sau khi "nhổ sạch lông"
của họ một cách rất có phương
pháp. Mỗi người phải trả
giá vượt biên từ 3 đến
5 lượng vàng (một lượng
= 36 grams), có khi gấp đôi. Nhà
cửa, xe cộ, hoặc của cải để
lại cho khi đến chỗ xuống tầu,
thường thì ở ngay tại thành
phố như Cần Thơ, bên bờ
Cửu Long, chẳng hạn, người
ra đi phải chịu đựng những
sự bóc lột cuối cùng như:
bị tịch thu do các băng đảng
tự cho là có quyền lục lọi,
lấy vàng, nữ trang hoặc đô
la mà người tỵ nạn có thể
còn cất dấu được. Sau đó
thì xuống tầu với nỗi lo sợ
rằng chiếc tầu chở mình sẽ
có một phần hai cơ hội sẽ bị
hải tặc tấn công để lấy
nốt những mẩu vàng còn xót
lại trên người trước
khi ném họ xuống biển. Thế nhưng
khi đã lên được tầu
rồi vẫn còn chưa yên với
tuần cảnh địa phương nếu
tầu chưa ra đến hải phận quốc
tế. Nếu muốn thoát khỏi không
bị bắt lại, thì tốt hơn hết
là đưa ra chút của cải nào
còn được dấu vào chỗ
kín nhất. Bằng không thì sẽ
bị bắt lại, và trong trường
hợp này, tội danh là phản bội
và bị "đế quốc Mỹ" mua chuộc.
Tội này có thể ngồi tù từ
12 năm cho đến 20 năm (sắc luật
luôn luôn có sẵn để tham khảo).
Những người
chọn cách đi tỵ nạn bằng đường
bộ xuyên qua lãnh thổ Lào hay Căm
Bốt đến Thái Lan thì gọi là
Bộ Nhân (land people) . Những cuộc hành
trình vượt biên đi tỵ nạn
bằng đường bộ thì luôn
luôn gặp nguy hiểm. Họ sẽ bi công
an, hay bộ đội, hay là cảnh vệ
nhân dân đuổi bắt, và có
khi chỉ là người đi đường,
thường là có liên hệ với
Cộng Sản. Còn những người
vượt biên nào "mượn được",
theo với giá do quân đội Nhân
Dân ấn định, một chiếc xe vận
tải quân sự chở quân nhu,
cho phép họ núp bên trong thùng lớn,
cách này được xử dụng
khá thường xuyên, nhưng có
khi cũng bị ngộp thở chết vì
hơi xăng, và các nạn nhân trong
trường hợp này cũng khá
đông.
Những người
may mắn hơn hết là có thể
"kiếm" được một "giấy xuất
cảnh chính thức" và vé máy
bay đến tận Hoa Kỳ. Nhờ vào
một kế hoạch do Liên Hiệp Quốc
tổ chức với sự thỏa
thuận giữa Hoa Thịnh Ðốn và
Hà Nội vào năm 1979. Thế nhưng
họ cũng vẫn chịu hạch sách và
tống tiền thì đơn xin xuất
cảnh chính thức mới qua lọt,
nhiều khi phải mất đến mười
năm chờ đợị Ngay chí
Hoa Kỳ còn bị hạch sách đủ
điều, và phải trả tiền cho
từng đầu người tỵ
nạn để được phê chuẩn
cho phép đị
Do đó, Cộng
Sản Việt Nam đã phát minh ra được
"NHỮNG CON BÒ SỮA THUYỀN NHÂN"
của họ. Một nhà nghiên cứu
ở Ba Lê tên là Bùi Xuân
Quang, trong cuốn sách La Troisième guerre d'Indochine
1975-1099 (207-590, L'Harrmattan, 2000), ông đã tính
toán "mối giao dịch" này của Cộng
Sản Việt Nam, kéo dài ròng rã
20 năm kể từ 1975 đến 1995, đã
mang lại cho Ngân Khố của Nhà Nước
Cộng Sản Việt Nam khoảng 25 TẤN VÀNG.
Với chừng ấy vàng mà
người ta thấy xuất hiện trên
thị trường tiền tệ Tây Phương
dưới hình dạng các thỏi
vàng mang ấn dấu của Việt Nam. Chủ
yếu của nó là dùng vào việc
bồi hoàn những số nợ mà
bọn Phỉ Quyền Cộng Sản Việt Nam
đã ký kết với Cộng Sản
Nga và các xứ dân chủ nhân
dân cùng tiền mua vũ khí chiến
tranh, số vàng ấy lên đến
trị giá khoảng 2.5 tỷ Mỹ Kim, tính
trong khoảng thời gian từ năm
1979 đến năm 1983.
Hiệp sống với
nỗi ám ảnh là bỏ nước
ra đi. Tôi còn nhớ tiếng nói
của người "Thuyền Nhân" mà
chúng tôi đã từng gặp
nhau trên bãi biển Songkla tại Thái
Lan giữa những người khác,
bên cạnh chiếc tầu bị hư của
họ, mà tôi đã được
nghe anh kể lại câu chuyện thống khổ
của anh. Và cho đến bây giờ
bên tai tôi vẫn còn văng vẳng
lời kể lại của anh:
Vào một đêm
nọ ở Việt Nam, một tên cán
bộ Cộng Sản Việt Nam đã nói
khẽ vào tai anh: "hai ngàn đô la,
hay 4 cây vàng ..." Anh đồng ý với
mối làm ăn; thế nhưng khi đến
chỗ hẹn thì Hiệp mới nhận
ra mình đã bị cướp. Thuyền
thì chẳng thấy đâu mà vàng
thì bị mất. Ðó là cái
hoạ luôn luôn rình rập và cũng
là một trong những cái giá mà
những người muốn vượt
biên tìm tự do. Làm sao để
tránh khỏi bị lừơng gạt,
cướp bóc hoặc bị tố cáo,
và tìm ra đường giây tốt.
Tôi biết có một "Thuyền Nhân"
đã không thành công trong việc
đi tỵ nạn mặc dù đã thử
đến 27 lần. Hiệp thì đi hụt
3 lần, và sau đó thì anh quyết
định tự tổ chức lấy
chuyến vượt biên. Anh đã
lén lút tự vá víu một chiếc
tầu đánh cá cũ. Từng
đêm rồi lại từng đêm
cứ lo bào rồi lại trét, và
những đêm trắng đêm hì
hục sửa chữa máy móc. Thế
rồi cuối cùng thì ngày khởi
hành cũng đến, chiếc tầu
đánh cá cũ kỹ của anh mang
theo 85 người rời bãi xuôi
giòng và trôi dọc theo những
con kênh chây dài ra biển.
Hiệp lặp lại
cho chúng tôi nghe với một vẻ
thống khổ: "Chúng tôi có 85 người
trên chiếc tầu này và đã
rất sung sướng vì có thể
rời khỏi Việt Nam. Bây giờ
thì ông hãy nhìn xem, ngày hôm
nay chúng tôi chỉ còn có hai ngườị
Hai người sống sót duy nhất
là Ngọc, con gái của chị tôi
và tôi". Với cái đầu
ướt lạnh như con mèo chết
đưới và thân thể đói
khát gầy trơ xương sườn
như một con chó hoang, cùng với
đứa bé gái lên sáu tuổi
có đôi mắt nai khờ. Chúng
tôi đã khóc. Nước mắt
của những kẻ thừa mứa
tự do đã đổ xuống mặn
ướt câu chuyện phiêu lưu liều
chết tìm tự do của anh. Anh đã
bị kẹt lại ở trại Songkla này
cùng với Ngọc sau khi thoát chết
khỏi những bàn tay đẫm máu
của bọn hải tặc Thái Lan đã
giết chết chị anh cùng tất cả
hành khách trên tầu sau khi chúng
bắt mang theo gần hết phụ nữ.
Vào tháng 10 năm
1978 có 20,000 người tỵ nạn đặt
chân lên bờ biển Mã Lai, và
chỉ đến tháng 12 năm đó
con số đã lên đến 50,000 ngườị
Cộng thêm vào con số 5,000 người
đi chân đất với ước
vọng đã đến được
bến bờ tự do. Chỉ trong vòng
4 tháng cũng đủ để cho hòn
đảo hoang Pulau Bidong của Phi Luật Tân
đón nhận được 20,000 kẻ
bị biển ruồng bỏ. Vào khoảng
giữa năm 1979, có 5000 người
tỵ nạn mới đến thêm vào
con số những người anh em khốn
khổ trong trại tỵ nạn Hồng Kông,
trong khi có 90,500 người khác làm
đầy ắp trại tỵ nạn Mã
Lai. Những người mà cảnh
sát địa phương từ chối
đẩy ra biển đã trôi giạt
đến Nam Dương, hoặc xa hơn nữa,
đến tận Nam Hàn, hay Nhật Bản,
và có khi đến tận Úc Ðại
Lợị Hãy thử nhắm mắt
và tưởng tượng cuộc hành
trình liều chết để tìm tự
do của họ trên khoang một con tầu bé
nhỏ mong manh ...
Bất thình lình,
một hồi chuông báo động nổi
lên khi hai nước Thái Lan và
Mã Lai tuyên bố rằng từ nay
về sau họ sẽ không nhận thêm
thuyền nhân mớị Bị dồn
vào đường cùng, Liên Hiệp
Quốc phải triệu tập một hội nghị
quốc tế ở Genève và thu hoạch
được ba kết qủa là: Các
quốc gia ở vùng duyên hải bảo
đảm là thuyền nhân sẽ không
bị đẩy lui ra biển; các quốc
gia tiếp nhận họ gia tăng thêm một
số lượng hạn định tái
định cư bổ túc là 130,000 người;
và quan trọng nhất là Hà Nội,
lo ngại thể diện của chúng bị
bôi đen tối dần ở biển
Ðông trước sự bất mãn
của cả thế giới, nên đã
cho phép thuyền nhân có thể ra đi
chính thức hợp pháp "trong vòng
trật tự", bằng phương tiện hàng
không, chương trình này Liên Hiệp
Quốc gọi là "Ra Ði Trong Vòng Trật
Tự" (Orderly Departure Program) viết tắt là
ODP.
Kể từ giờ
phút đó, nhịp điệu những
người vượt biển đến
các trại tỵ nạn thưa thớt
một cách rõ rệt. Mực độ
từ 300,000 người vào năm
1979, xuống chỉ còn 24,500 vào năm
1984, và đến năm 1986 chỉ còn
19,500 ngườị Cũng vào năm
đó, lần đầu tiên, các
cuộc ra đi tỵ nạn chính thức
bằng hàng không với giấy nhập
cảnh nhiều hơn con số những người
trôi dạt đến bằng đường
biển. Kết quả của hội nghị thuyền
nhân tại Genève đã thỏa mãn
thấy rõ, nơi mà LH Q nhắm vào
một giải pháp mới cho vấn đề
"Thuyền Nhân".
Nhưng chỉ hai năm
sau thì tình hình lại đổi ngược
và đã làm cho thế giới
thất vọng. Những người tỵ
nạn đi tìm tự do lại trở
ra biển: con số tăng lên 45,000 người
vào năm 1988 (25,000 người nhiều
hơn hai năm trước đó), 71,300
người vào năm 1989, trong số
đó phải cộng thêm vào khoảng
17,000 người "bộ nhân". Vấn đề
trở nên không giải quyết được
và các quốc gia ở vùng duyên
hải bắt đầu nổi giận.
Ðó chính
là lý do mà tại trại tỵ nạn
Hồng Kông, nơi mà mỗi ngày
có đến 34,000 "Thuyền Nhân" mới
nhập trại, và chính quyền Hồng
Kông quyết định từ đó
về sau họ sẽ đưa những người
mới đến vào trại tạm giam.
Thế là những cuộc nổi loạn
và tự tử nối tiếp theo quyết
định của chính quyền Hồng Kông.
Ðể đóng chặt cánh cửa
ngăn chậ n hẳn cái mạch chính
của làn sóng vượt biển tìm
tự do không ngung này, các quốc
gia tiếp nhận di trú lại tập họp
lại thêm một lần nữa và
họ đã tìm ra một biện pháp
mới gọi là PAG (Plan d'Action Global) tức
là chương trình Hành Ðộng
Toàn Cầụ Bất cứ thuyền
nhân nào đến trước ngày
13 tháng 3 năm 1989 ở một quốc
gia lân cận Việt Nam, kể từ đó,
trên phương diện hành chánh, được
xem như một người có quyền
xin cư trú, nghiã là một người
tỵ nạn chính trị hoàn toàn có
quyền hy vọng được đi sống
hết cuộc đời mình ở
một nước Tây Phương. Dĩ
nhiên là với điều kiện
xứ này phải bằng lòng cấp
cho họ một visa nhập cảnh. Ngược
lại, tất cả hồn tồn khác đối
với một người tỵ nạn
lên bờ sau ngày 19 tháng 3, năm
1989. Họ bị xắp loại là di dân
kinh tế, người đó phải
chứng minh dược mình có một
sự sợ hãi co căn cứ
về việc bị xử tội, nếu khơng
thì người đó bị đe
dọa là sẽ bị cưỡng bách
hồi hương. Trừ phi chính mình
tự quyết dịnh quay về nước.
Ðó là điều
Hiệp đã lầm. Quy chế tỵ nạn
chính trị của anh bị từ khước,
anh biết mình không còn cơ hơi
được nhận vào Hoa Kỳ. Tuy
nhiên, anh cũng phân vân rất lâu
trước khi chấp nhận ý tưởng
hồi hương. Bởi vì cũng như
phần đông các người tỵ
nạn khác, anh sợ bị bắt nhốt
vào tù một khi trờ về Việt
Nam. Anh chưa bao giờ làm chính trị,
nhưng có người anh từng chiến
đấu trong quân dội Việt Nam Cộng
Hòa, và ông nội anh làm việc
cho chính phủ bảo hộ. Hai vết đen
đó trên lý lịch cá nhân
có thể khiến anh phải trả giá
rất đắt. Nhưng rồi có một
lá thư từ Sài Gòn gửi
đến trại tỵ nạn Thai Lan PhanatNikhom,
nơi anh tạm trú, đã trấn an
anh được phần nào. Một trong
những người bạn vượt
biên cũ của anh, đã tình nguyện
về Việt Nam, cho anh biết là mọi chuyện
khá tốt đẹp ở đó,
và khuyến khích anh cùng về.
Năm 1993, chúng
tôi gặp lại Hiệp ở quê hương
anh, và lại khóc lần nữạ
Thế nhưng lần này thì chúng
tôi cùng khóc mừng rỡ
khi thấy anh đã thoát nạn. Anh là
một trong 110.000 cựu "thuyền nhân" kể
từ nam 1989 đã chọn hồi hương
thay vì tiếp tục chết dần mòn
ở một trại tỵ nạn Á Châụ
Nhờ có sự giup đỡ
tài chánh của Phủ Cao Ủy Tỵ
Nạn Liên Hiệp Quốc (HCR) và Liên
Minh Âu Châu, mà giờ đây
anh trở thành chủ nhân của một
xưởng pha chế nước mắm
và một căn nhà nho nhỏ hai phòng,
gần Vũng Tầu, mà tên cũ
người Pháp gọi là Cap Saint-Jacques,
trên bờ biển Miền Nam mà ngày
xưa anh đã bỏ ra đi tìm tự
do không bao giờ có, và tưởng
rằng không bao giờ anh sẽ phải
trở lại nởi đâỵ Anh
sống cùng bà góa phụ của một
trong những người bạn đã
biến mất trên biển đi tìm tự
do, cùng với người em gái
và ba đứa con của bà. "Nhà
của chúng tôi tuy nhỏ như chúng
tôi có thể chứa được
đủ thứ. Ở trên thuyền
còn ít chỗ hơn."
Trong những cuộc
vận động và thoả thuận cùng
Hà Nội, Liên Hiệp Quốc đã
cố gắng tạo điều kiện tốt
cho những người cứng rắn,
ngõ hầu giúp cho họ tự quyết
định sắp xếp quay về. Họ cho
chiếu những cuốn phim quay tại Việt
Nam mà trong đó cho thấy cảnh những
người cựu thuyền nhân tình
nguyện hồi hương "sống như những
ông hoàng". Các cán bộ Cộng
Sản còn đến gặp họ để
tâng bốc. Họ gáy lên những
điệp khúc tuyên truyền nào
là Việt Nam đã thay đổi, và
ở đó người ta sống
tự do và ai đói thì cứ
ăn.
Bọn Phỉ Quyền
Hà Nội có thể tự khen chúng.
NHỮNG CON BÒ SỮA THUYỀN NHÂN
ÐÃ MANG ÐẾN CHO BỌN PHỈ QUYỀN
CỘNG SẢN HÀ NỘI RẤT NHIỀU QUYỀN
LỢI. CHƯA HẾT, NHỮNG CON BÒ
SỮA VẪN CÒN TIẾP TỤC CUNG CẤP
SỮA DÙ Ở TẬN BÊN KIA BỜ
ÐẠI DƯƠNG.
Qua những gói
qùa họ gởi về cho gia đình
mà những người tỵ nạn
không bao giờ ngừng gởi
về nuôi thân bằng quyến thuộc
còn kẹt lại ở Việt Nam, bắt
đầu từ ngày đầu tiên
họ đặt chân định cư trên
một quốc gia tự do. Bằng những
đồng tiền mồ hôi nước
mắt mà họ không bao giờ ngưng
chuyển về ngõ hầu giúp đỡ
những người thân sống còn.
Và bằng sự hiện diện của
họ bởi vì ngày nay họ được
phép về nước nghỉ hè bên
cạnh thân bằng quyến thuộc. Một
ước tính vào năm 1999 cho thấy
có đến hai tỷ đồng Ðô
La hàng năm họ đã mang lại cho
Phỉ Quyền Cộng Sản, tức là
một phần ba ngân sách của Nhà
Nước Cộng Sản Việt Nam.
GẦN HAI TRIỆU NGƯỜI
VIỆT NAM ÐÃ CHỌN ÐỜI SỐNG
LƯU VONG NƠI XỨ LẠ QUÊ NGƯỜI
THAY VÌ LÀM NÔ LỆ CHO CỘNG SẢN,
HÀNG TRĂN NGÀN NGƯỜI ÐÃ
GỤC CHẾT TRÊN ÐƯỜNG TRỐN
CHẠY NANH VUỐT CỘNG SẢN VIỆT NAM. KẺ
NÀO ÐÃ DÁM ĂN NÓI NGƯỢC
NGẠO, VÀ TUYÊN TRUYỀN LÁO KHOÉT
RẰNG TOÀN THỂ NHÂN DÂN MIỀN
NAM VIỆT NAM ÐOÀN KẾT CÙNG CÁC
"ANH HÙNG GIẢI PHÓNG" VÀO NĂM 1975
???
Nỗi ám ảnh
bỏ nước ra đi của Hiệp. Tôi
còn nghe anh nói, run rẩy trong bộ đồ
bà ba ướt sũng nước
biển, gia tài duy nhất còn sót lại
trong đời anh. Giữa vùng vịnh
Thái Lan, tiếng máy tầu của Hiệp
hình như văng vẳng tiếng kêu
của những linh hồn lìa xác.
Thức ăn và nước uống
đều sắp cạn. Những người
đàn bà qùy trên khoang tầu
khấn nguyện trời đất. Phải
chăng trời đất đã chấp
thuận lời cầu nguyện của những
thuyền nhân vừa mới thoát
ra khỏi nanh vuốt Cộng Sản và đang
dẫy trên giữa lòng đại
dương?
Vào giữa trưa
ngày thứ sáu, có một chiếc
thuyền lướt sóng cha,y nhanh về
phía họ. Ðó là một chiếc
thuyền đánh cá Thái Lan. Rồi
hai chiếc ... rồi ba chiếc .... Thoát Nạn
chăng ? Nhưng ... Than ôi, đó là
những chiếc thuyền hải tặc Thái
Lan. Chúng cướp bóc trên tầu,
giết chết những người đàn
ông kháng cự, và bắt đi
18 người đàn bà trẻ nhất,
rồi bỏ đi sau khi đâm thủng
tầu. Những người Việt Nam
cố bám vào thân tầu thì bị
chúng dùng gậy đập chết. Khi
trời sáng thì chỉ còn hai người
sống sót duy nhất đang bám víu
vào sự sống cuối cùng là
chiếc thùng đựng nước
bằng nhựa hóa học mà định
mệnh của học bập bềnh theo sóng
biển vô tình. Hai người đó
là Hiệp và Ngọc, cô bé gái
có đôi mắt của con nai bị thương
vừa thoát chết dưới lưỡi
hái của tử thần. Tôi nhìn
cô bé đầu nghiêng mắt nai,
tựa cằm trên bàn, và đăm
đăm nhìn tôi với ánh
mắt để đờị. Dường
như tất cả tuổi thơ đã
bỏ em mà đi. Cô bé chỉ còn
lại một khoảng trống rỗng của
đời ngườị. Một chiếc
bình hoa tuyệt mỹ đã rơi xuống
bên thềm địa ngục và tan vỡ
giữa trần gian.
Ðó là lịch
sử của những người chạy
trốn nanh vuốt Cộng Sản mà đời
gọi họ là "THUYỀN NHÂN", và
cũng có những người còn
mệnh danh họ là kẻ "CHẾT ÐUỐI
CHO TỰ DO". Lịch sử của một
dân tộc trong suốt 20 năm trường
đã bị tàn hại dưới
nanh vuốt của một thứ chính trị
đầy thù hận và kỳ thị
của bất cứ một chế độ
Cộng Sản nào.
HÀ NỘI: Ðồng
minh tội ác của Bắc Kinh
Trong suốt chiều
dài lịch sử của đảng
cộng sản Việt Nam, chế độ Hà
Nội đã nhiều lần đi giây
giữa Liên Sô và Trung cộng. Ðặc
biệt sau khi Trung cộng chiếm trọn lục
địa năm năm 1949, cộng sản Việt
Nam đã cần sự giúp đỡ
của Trung Quốc, và chính sự hỗ
trợ này đã làm thay đổi
tình hình quân sự và ảnh
hưởng cả về chính trị, kinh
tế, văn hóa lẫn xã hội tại
Việt Nam, đánh dấu một giai đoạn
đẫm máu nhất và biến đổi
nếp sống văn hóa cổ truyền
cũng như biến phong trào dành độc
lập dân chủ của dân tộc thành
phong trào cộng sản.
Ảnh hưởng
của Trung Quốc đối với các
chế độ cộng sản Á châu
thật rõ rệt. Hồi ký của Hoàng
Văn Hoan tiết lộ từ năm 1950 đến
1954 Trung Quốc đã huấn luyện bộ
đội và cán bộ hành chánh
cho Việt Minh. Trong khoảng từ năm 1965
đến 1970 khỏang 30 ngàn lính Trung
Quốc sang giúp quân đội Bắc
Việt trong cuộc chiến xăm lăng miền
Nam. Tướng Võ Nguyên Giáp đã
tuyên bố: "Sau năm 1950, quân đội
và nhân dân ta đã học được
những bài học quý giá từ
quân đội giải phóng nhân dân
Trung Quốc. Chúng ta đã học hỏi
tư tưởng quân sự của Mao
Trạch Ðông. Ðó là yếu
tố quan trọng giúp quân đội chúng
ta trưởng thành và đưa chúng
ta tới những chiến thắng liên
tiếp." Sự gắn bó của phong trào
cộng sản tại hai quốc gia này đã
gây ra những tai họa khiến dân
chúng phải chịu nhiều thảm cảnh.
Cách mạng Văn
Hóa
Dưới thời
Mao Trạch Ðông, để tạo dựng
một lực lượng chịu hy sinh cho
cách mạng, các binh sĩ và bộ
đội chính quy thường được
tuyển mộ từ những lớp
người sống bên lề xã
hội, trong đó có trộm cướp,
ăn mày, những người đâm
thuê giết mướn. Từ năm
1926, Mao Trạch Ðông có ý định
cho những người thuộc thành
phần này nắm giữ vai trò quan
trọng trong cuộc cách mạng. Ông đã
nhận định: "Những người
thuộc thành phần này có thể
chiến đấu hết sức can trường
và nếu được hướng
dẫn đúng mức họ sẽ trở
thành một lực lượng cách
mạng thật sự". Với những
ưu đãi đó thành phần
này đã khởi đầu những
cuộc thanh trừng trong nội bộ đảng,
và khuynh hướng này đã
gia tăng tội ác.
Một hình thức
thanh trừng khác là "phê và
tự phê" trong đó có những
vụ bắt giam, nhục mạ và đánh
người trước sự chứng
kiến của dân chúng. Sự bắt
bớ, thủ tiêu các đảng
viên trở lên thường xuyên
gây lên một cuộc khủng hoảng trong
đảng. Trước nguy cơ xáo
trộn nội bộ đảng trở thành
nghiêm trọng, Mao Trạch Ðông đã
phải tuyên bố: "Chúng ta không nên
giết người, có nhiều người
đáng lý ra không nên bị bắt
giam", và trong một hội nghị cán bộ
cao cấp ông đã phải lên tiếng
tạ lỗi, nhưng vẫn ngấm ngầm
thi hành những thủ đoạn bá
đạo giết hại người đối
lập.
Trong thời gian Mao
Trạch Ðông nắm quyền, theo ông
Margolin, Mao có nhiều quyền sinh sát đến
nỗi người ta ví ông như một
vị hoàng đế thời phong kiến,
với tính tình bất thường,
kiêu căng, những vụ sát nhân
khủng khiếp với nếp sống trụy
lạc, bá đạo. Người ta ước
tính dưới thời Mao Trạch
Ðông cộng sản đã gia hại
từ 6 đến 10 triệu người.
Thêm vào đó hàng 10 triệu người
khác bị mang danh "phản cách mạng"
đã chôn vùi cuộc đời
trong các nhà tù và có tới
vài chục triệu người chết
dần mòn trong các nhà tù đó.
Và gần đây, hồi tháng 6 năm
1989 tại quảng trường Thiên An Môn,
khoảng môt ngàn người dân
vô tội khao khát tự do đã
thiệt mạng trước họng súng
của quân đội Trung Hoa. Trước
thảm trạng này Ðặng Tiểu Bình
đã tuyên bố l! à đối
với sự tàn sát này: "không
nghĩa lý gì so với số tử
vong của những biến cố trong thời
cận đại của Trung Quốc."
Theo chân Trung Quốc,
đảng cộng sản Việt Nam triệt để
áp dụng chính sách "phê và
tự phê" và "tam cùng" (cùng ăn,
cùng ở, cùng làm) trong đời
sống dân chúng và trong các cơ
quan chính quyền thuộc đảng và
nhà nước. Ðời sống
cá nhân của người dân trở
lên bất ổn, luôn bị nhòm ngó
theo rõi, nghi ngờ những người
xung quanh. Chính đường lối phê
bình đã đưa tới thù
hận cá nhân mà việc chỉnh huấn
trong nội bộ đảng đã khiến
cho nhiều ngàn đảng viên bị
chết oan uổng.
Phong trào Cải
cách ruộng đất
Phong trào "Cải
cách ruộng đất" tại Trung Hoa đã
tàn phá hàng trăm ngàn ngôi
làng, và khi cộng sản chiếm được
ưu thế vào năm 1948, họ không
còn thả tù và cũng vì thế
các nhà tù đông nghẹt người.
Nhiều trăm ngàn người bị
bắt giam và các trại lao cải đã
trở thành các đơn vị sản
xuất cho nhu cầu chiến tranh. Mao Trạch Ðông
còn lợi dụng và khai thác sự
bất mãn của nông dân để
phát động phong trào cải cách.
Những phần tử khích động
chia nông dân làm bốn nhóm: cố
nông, bần nông, trung nông và phú
nông và bất cứ ai nằm ngoài
bốn nhóm trên đều xem là
địa chủ và liệt vào đối
tượng phải loại bỏ, đã
gây ra tình trạng chia rẽ trong dân
chúng.
Từ cách mạng
văn hóa đến cải cách đất
đai, guồng máy đàn áp vẫn
tiếp tục vận hành. Các phong trào
này tuyên bố đã đạt
thành quả tốt đẹp, điều
này chứng tỏ cuộc đàn
áp được thực hiện khốc
liệt đến nỗi không còn lại
bao nhiêu đối thủ, và sự
đàn áp vẫn tiếp tục khủng
bố. Người ta chưa biết rõ
con số nạn nhân của phong trào cải
cách ruộng đất tại Trung Hoa là
bao nhiêu, nhưng các nhà nghiên cứu
cho rằng số người thiệt mạng
trong thời kỳ này phải từ
2 đến 5 triệu người. Thêm
vào đó có tới 4 đến
6 triệu người bị đưa vào
các trại lao cải.
Tại Việt Nam, cuộc
"cải cách ruộng đất" được
thực hiện cùng lúc với "chỉnh
huấn" đã vượt xa Trung Quốc
về phương diện tàn bạo. Chính
sách "cải cách ruộng đất" bắt
đầu từ năm 1952 ở các
vùng quê hẻo lánh, đến năm
1953, ông Trường Chinh, Tổng Bí
Thư đảng đọc một báo cáo
về chính sách "cải cách ruộng
đất" và quốc hội đã
biểu quyết luật "cải cách ruộng
đất" vào tháng 12. Những người
giầu có ở nông thôn, thành
phần có nhiều ruộng và trâu
cầy, đã bị đưa ra đấu
tố tại một phiên xử của Tòa
án Nhân dân. Lúc đầu chỉ
những đại địa chủ bị
đưa ra xét xử và hình phạt
thường là tử hình và
tịch biên gia sản để chia cho giới
vô sản. Chính sách "cải cách
ruộng đất" trong giai đoạn này
chưa có gì khốc liệt, vì cộng
sản miền Bắc vẫn muốn giữ
dân miền Bắc ở lại. Nhưng
kể từ sau phong trào di cư chấm
dứt vào tháng 5 / 1955, công cuộc
"cải cách ruộng đất" được
thi hành triệt để và toàn diện.
Các thành phần thuộc giai cấp địa
chủ hay phú nông đều bị thanh
toán, dù họ đã từng đóng
góp rất nhiều công và của
cho kháng chiến chống thực dân
Pháp. Ngoài thành phần địa
chủ và phú nông, những ngư!
ời của đảng giữ vai trò
lãnh đạo tại nông thôn cũng
bị chung số phận. Lực lượng
đóng vai trò tiêu diệt giới
địa chủ là thành phần vô
sản, là những người sẽ
nắm trọn quyền cai trị ở nông
thôn.
Ðể thực
hiện công cuộc "cải cách ruộng
đất", cộng sản miền Bắc đã
thiết lập các đoàn và các
đội cải cách có quyền quyết
định mọi việc. Ông Trường
Chinh là người chỉ đạo công
cuộc "cải cách ruộng đất" ở
Trung ương, và người trực
tiếp điều khiển công tác là
ông Hồ Viết Thắng, còn Tố
Hữu phụ trách công tác tuyên
truyền.
Tại mỗi tỉnh
có khoảng 10 đoàn cải cách
với tổng số nhân sự lên
đến 1000 người , mỗi đoàn
chia ra làm nhiều đội. Ðoàn
nhận lệnh từ trung ương, và
chỉ huy trực tiếp các đội.
Ðội được lực lượng
du kích có võ trang tại địa
phương giữ an ninh và uy hiếp tinh
thần dân chúng. Các đoàn
và đội được học tập
chỉ thị của trung ương trước
khi phát động cuộc cải cách.
Với quyền hành tuyệt đối
trong tay đội và đoàn cải cách
đã ám ảnh tinh thần dân chúng
nông thôn qua câu nói 'nhất đội
nhì trờí. Ðội có quyền
quy định ai là địa chủ, có
quyền giải tán chi bộ đảng ở
địa phương nếu phát hiện
có liên hệ với thành phần
địa chủ, phú nông hay phản động.
Ðội cũng có quyền truy nã,
bắt giam và cô lập địa chủ
và gia đình! của những người
này. Những hình phạt tử hình
hay tù đầy và tịch biên gia
sản đều do đội quy định
trước. Phiên xử công khai
chỉ là một hình thức hợp
thức hóa quyết định của
đội.
Tại miền Bắc,
việc xác định thành phần giai
cấp như sau:
- Cố nông là
thành phần nghèo nhất. Họ không
có nhà cửa, ruộng vườn,
trâu bò và đi làm thuê hay
ở đợ cho người khác.
- Bần nông là
những người có nhà cửa
và có vài sào ruộng tự
canh tác lấy. Lợi tức không
đủ sống nên thuê ruộng làm
thêm hay đi làm thuê cho địa
chủ. Theo cộng sản hai thành phần trên
là thành phần bị bóc lột sức
lao động và là giai cấp tiền
phong của xã hội chủ nghĩa.
- Trung nông là
những người có ít ruộng
đất tự canh tác và không
thuê người khác làm cho mình.
- Phú nông là
thành phần có ruộng và trâu
cầy và mướn thêm người
khác làm giúp.
-Thành phần chót
là địa chủ, những người
có nhiều ruộng đất. Họ không
tự canh tác và sống trên sức
lao động của người khác.
Theo chính sách
"cải cách ruộng đất" khởi
đầu, nếu là địa chủ,
cường hào ác bá, có
nợ máu thì bản án thường
là tử hình. Trong trường
hợp bị tuyên án tử hình,
đương sự bị hành quyết
ngay trước mặt mọi người
sau phiên xử. Xác của nạn nhân
được hất xuống một hố
đào sẵn bên cạnh. Có trường
hợp nạn nhân bị chôn sống
hay dưới những hình thức
tàn nhẫn khác.
Hậu quả sai lầm
trong "cải cách ruộng đất" đã
đưa tới việc cải tổ trong
nội bộ đảng. Ông Trường
Chinh mất chức Tổng Bí thư, còn
Hồ viết Thắng rút ra khỏi Ban chấp
hành Trung ương. Số nạn nhân của
cuộc "cải cách ruộng đất" cho
đến nay vẫn chưa được
xác định. Có người cho
con số đó lên tới hàng
trăm ngàn, nhưng theo ông Hoàng văn
Chí, con số đó phải nhiều
hơn nữa. Vì bên cạnh những
nạn nhân còn những người
tự tử vì bị làm nhục,
bị bỏ đói vì bị cô lập
không có ai dám giúp đỡ.
Nhưng tai hại hơn số nạn nhân bị
bức tử, việc đấu tố
đã làm hệ thống gia đình
tan vỡ.
Nhiều người
đặt câu hỏi là liệu Trung Quốc
có thúc đẩy cộng sản Việt
Nam tiến hành cuộc "cải cách ruộng
đất" hay không. Trên thực tế
Trung Quốc đã phái một số
cố vấn giám sát công cuộc
cải cách ruộng đất tại Việt
Nam. Theo hồi ký của Hoàng Văn Hoan,
"Giọt nước trong biển cả", khi ông
trở lại Bắc Kinh, Thủ tướng
Chu Ân Lai có hỏi: "Việc sai lầm trong
cải cách ruộng đất có liên
quan gì đến các đồng chí
cố vấn Trung Quốc không?" Ông Hoàng
văn Hoan đã trả lời: "Kinh nghiệm
cải cách của Trung Quốc rất tốt.
Ủy ban cải cách ruộng đất ở
Việt Nam phạm sai lầm, như tăng thành
phần địa chủ lên quá nhiều,
đánh vào phần lớn trung nông
và phú nông. Ðánh vào những
người chỉ có ít ruộng đất
nhưng nguồn thu nhập chính là ở!
ngành nghề khác. Ðánh vào
địa chủ kháng chiến, những
người có công với cách
mạng và tệ hại hơn nữa, đánh
cả vào các cơ sở đảng.
. ." Qua những lời trình bầy
của ông Hoàng Văn Hoan với Thủ
tướng Trung Quốc, dù nói lên
một thực trạng, nhưng vẫn mang sắc
thái một lời 'báo cáó
với quan thầy.
Phong trào Trăm
hoa đua nở
Phong trào "Trăm
hoa đua nở" đã làm tiêu
tan cảm tưởng lạc quan của giới
trí thức Trung Hoa sau một thời
gian ngắn. Thọat đầu, Mao Trạch Ðông
khuyến khích mọi người tự
do bầy tỏ bất mãn, sau đó
Mao Trạch Ðông đã tìm cách
triệt hạ những người này,
vì theo Mao, họ có tư tưởng
độc hại. Hàng trăm ngàn người
tin tưởng ở lời nói
của Mao nên nhiệt liệt hưởng
ứng, họ đã lọt vào bẫy
và bị đàn áp dã man trong
phong trào chống xét lạị
Tại Việt Nam từ
năm 1950 trở đi, khi có sự
hiện diện của các cố vấn trung
Hoa, các văn nghệ sĩ chân chính
còn giữ được bản chất
cao quý của người cầm bút
đã ngưng sáng tác, còn những
nghệ sĩ kháng chiến không sáng
tác được tác phẩm nào
giá trị, ngoại trừ những
bài thơ ca tụng đảng và bác.
Ðầu năm 1956 nhà xuất bản
Minh Ðức cho ra cuốn sách nhan đề
"Giai phẩm 1956" có nhiều bài nêu
ra những thối nát của chế độ.
Sau đó đến "giai phẩm xuân"
của Trần Dần đã nói lên
tiết tháo của văn nghệ sĩ Bắc
Hà. Sang tháng 9 tờ "Nhân văn"
ra đời nhằm đấu tranh về
chính trị với mục đích
nhắm vào giới lãnh đạo.
Cuối cùng Hồ Viết Thắng phải
nhận sai lầm về "Cải cách ruộng
đất" và Tướng Võ Nguyên
Giáp phải thay mặt đảng nhận k!
huyết điểm. Ðảng đưa ra
chiến thuật hầu gây khó khăn
cho giới làm báo như ra lệnh cho
mậu dịch không cấp giấy cho báo
đối lập, khủng bố những
người phát hành kể cả
độc giả. Thấy tình trạng chống
đối ngày càng lan rộng, ngày
15-12-1956 ông Hồ Chí Minh ký sắc
lệnh "tước quyền tự do ngôn
luận của báo chí. . ." Sau khi sắc
lệnh ra đời các báo chỉ
chích đảng đều đóng
cửa, các văn nghệ sĩ ngoài
đảng bị đưa đi học tập
cải tạo, một hình thức an trí
tại những nơi rừng thiêng
nước độc.
Chính sách cải
tạo tại miền Nam
Theo bài học Trung
Quốc, sau khi chiếm miền Nam vào tháng
4/1975, cộng sản Việt Nam đã thi hành
"chính sách cải tạo" thật tàn
nhẫn tại miền Nam. Ðối với
chính sách cải tạo, ông Phạm Văn
Ðồng ra lệnh: "không bắn, phí
đạn. Bắt đi lao động khổ
saị" Do đó, hàng trăm ngàn
quân, cán, chính và các vị
lãnh đạo tinh thần đã nhập
trại cải tạo. Người ta không
biết chính xác về số trại
và số người miền Nam bị
bắt vào các trại cải tạo là
bao nhiêu.
Ôạng Phạm Văn
Ðồng khi tới Pháp đã
trả lời báo chí: "Hiện nay Việt
Nam chỉ còn giam giữ 5% thành phần
chế độ cũ." Lời tuyên
bố trên vẫn không nói rõ
con số cải tạo là bao nhiêu. Cho đến
khi Nguyễn Cơ Thạch trả lời phóng
viên Kate Wenner của đài BBC: " Trong số
2 triệu rưỡi người dính
líu đến chế độ cũ hay
phục vụ cho Mỹ, không ai bị kết
án tử hình." Chúng ta mới
tạm nhận biết con số 5% của 2 triệu
rưỡi là 125,000 người bị
giam vô thời hạn. Theo báo cáo
của Aurora Foundation công bố năm 1989, con
số người bị giam từ 50,000
đến 500,000 người, và con số
mà bản báo cáo cho là đúng
nhất là từ 200,000 đến 300,000
người, và số trại cải tạo
được phỏng chừng là
150 trại. Nhưng sau ngày 30/4/1975 ngoài số
trại nằm trong danh sách thuộc Bộ ! Nội
Vụ, còn rất nhiều phòng giam tập
thể được thiết lập tại
các xã ấp đến quận tỉnh
không được báo cáo lên
trung ương, do đó số người
bị bắt phải nhân lên gấp bội.
Ngoài những
người bị bắt giam đưa vào
trại cải tạo, số người bị
hành quyết sau năm 1975 cũng khó
mà biết chính xác. Theo ước
tính của các nhà nghiên cứu
số nạn nhân có thể lên tới
khoảng gần một trăm ngàn người.
Ngoài ra số tù nhân chết do bệnh
tật vì thiếu thuốc chữa trị,
số người chết vì thiếu
chất dinh dưỡng và một số
tử nạn do lao động cũng không
được công bố và nằm
ngoài con số nêu trên.
Song song với chính
sách cải tạo, đảng và nhà
nước cộng sản Việt Nam cũng
nhắm vào thành phần tư sản,
gán cho họ những tội trạng như
"phản động hay bóc lột xương
máu của nhân dân", hầu đưa
họ vào tù để chiếm đoạt
tài sản. Cũng như cộng sản Trung
Hoa, cộng sản Việt Nam áp dụng chính
sách đốt sách báo, kinh điển
và loại bỏ nền âm nhạc cổ
truyền của dân tộc. Nhưng điều
quan trọng hơn nhất là đãợ
phá vỡ hệ thống gia đình
của người miền Nam và dẫn
dắt lớp trẻ vào con đường
chỉ biết hy sinh cho đảng.
Hiệp thương
Trong thời gian qua,
giới lãnh đạo cộng sản
Việt Nam luôn tán tụng Trung Quốc về
lãnh vực chính trị và kinh tế
và coi Trung Quốc như một mẫu mực
để phát triển Việt Nam trong tương
lai. Chúng ta nhận ra hành động này
khi Lê Khả Phiêu tuyên bố: "Tôi
mong muốn trong chuyến viếng thăm Trung
Quốc được học hỏi kinh nghiệm
quý giá trên đường xây
dựng xã hội chủ nghĩa". Và
Thủ Tướng Phan văn Khải cũng
bầy tỏ: "Việt Nam mong ước được
học hỏi Trung Quốc về phương diện
phát triển kinh tế". Và một lần
nữa sự theo đuôi của giới
lãnh đạo Việt Nam thể hiện qua
câu nói của Lê Khả Phiêu: "Nếu
trung Quốc thành công trong công cuộc
cải cách, chúng ta sẽ thành công.
Nếu trung Quốc thất bại chúng ta
sẽ thất bại". Thực ra, ông Hồ
Chí Minh, người khai sáng đảng
cộng sản Việt Nam, đã nói một
câu để đời: "Mọi việc
đã có Bác Mao nghĩ ra trước",
nên hành động theo đuôi của
lớp đàn em chỉ là bắt
chước người đi trước,
chạy theo vết xe cũ.
Sau khi miền Nam mất
vào tay cộng sản miền Bắc ngày
30/4/75, Hoa Kỳ đã phong tỏa kinh tế
Việt Nam. 19 năm sau, năm 1994, Hoa Kỳ đã
quyết định bãi bỏ lệnh cấm
vận và tái lập bang giao với
Việt Nam vào năm 1995. Tháng 5 năm
1996, Hoa kỳ trao bản dự thảo thương
ước đầu tiên cho Việt Nam.
Hai bên đã thỏa thuận nội dung
của thương ước vào tháng
7/1999. Nhưng vào phút chót, tháng
9/1999, Việt Nam từ chối không ký
chính thức vào bản thương
ước như đã dự trù,
và mãi đến ngày 13/7/2000 thương
ước mới được hai
chính phủ Việt-Mỹ ký kết tại
Hoa Thịnh Ðốn.
Sự ký kết
thương ước chậm trễ về
phía cộng sản Việt Nam được
hiểu do sự bất đồng ý
kiến trong giới lãnh đạo của
đảng, mà phe bảo thủ đại
diện là ông Ðỗ Mười
và Lê Ðức Anh không muốn
làm mất lòng đàn anh Trung Quốc.
Bị kiệt quệ về kinh tế, Việt Nam
phải cho áp dụng chương trình đổi
mới bắt đầu vào năm
1986. Trước đó, để đổi
mới kinh tế Trung Quốc theo mô thức:
"Kinh tế thị trường với
đặc tính xã hội chủ nghĩa".
Việt Nam đã rập theo khuôn mẫu
trên với một chút thay đổi:
"Kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa".
Việt Nam cũng theo gương Trung Quốc thành
lập "Xí nghiệp Quốc doanh", một nguồn
tài trợ hùng hậu cho phe quân
nhân và giới lãnh đạo
đảng.
Tháng 11 năm 1999,
Trung Quốc đã đạt thỏa hiệp
thương mại với Hoa Kỳ và
được Hạ Viện Hoa Kỳ phê
chuẩn vào ngày 24/5/2000. Thương ước
Việt-Mỹ cũng được ký
kết vào tháng 7 năm 2000, sau Trung Quốc
mấy tháng. Theo giáo sư Carlyle Thayer thuộc
Trung Tâm Nghiên Cứu An Ninh Á Châu
- Thái Bình dương đã đưa
ra nhận xét sau khi thương ước
Hoa-Mỹ được ký kết: "Yếu
tố Trung Quốc sẽ có ảnh hưởng
rất mạnh đến các cuộc thương
thảo của các lãnh tụ Việt Nam
trong những tháng tới. Trung Quốc
đã ký. Việt Nam sẽ theo. Chỉ
còn lại một câu hỏi là khi nào".
Một câu hỏi
được đặt ra là tại sao
bản thương ước Việt-Mỹ
được soạn thảo từ năm
1996 và phía cộng sản Việt Nam đã
thỏa thuận ký kết nhưng lại thay
đổi ý kiến vào tháng 9/1999.
Trong thời gian này hai văn bản ký
kết về nhượng đất và
biển cho Trung Quốc đã được
thực hiện. Có phải vì sự
"nhờ vả" của giới lãnh
đạo đảng cộng sản Việt Nam
mà Trung Quốc gây sức ép buộc
ký kết các hiệp ước cắt
đất cắt biển trước khi
Việt Nam có thể bị Hoa Kỳ ảnh
hưởng sau khi ký thương ước.
Theo giới quan sát
quốc tế, kinh tế Việt Nam trong những
năm vừa qua có tiến bộ, mặc
dù sự tiến bộ trồi sụt bất
thường. Ðời sống của
79 triệu dân vẫn chưa thoát khỏi
cảnh nghèo khó, nhất là tại
các vùng quê, dù Bắc hay Nam, nạn
đói vẫn còn đe dọa đời
sống dân nghèo. Một số chuyên
viên kinh tế thuộc các trường
đại học hay các trung tâm nghiên
cứu quốc ngoại và trong nước
đưa ra một nhận định, muốn
phát triển nền kinh tế èo uột
của Việt Nam, nhà nước phải
chấp nhận thay đổi chính sách
hiện nay trong đó có việc loại
bỏ xí nghiệp quốc doanh, tôn trọng
quyền tư hữu và tự do phát
triển cá nhân, nhất là mọi
người, kể cả giới lãnh
đạo đảng phải tuân thủ
pháp luật.
Các chuyên viên
kinh tế đã hội ý trong một tác
phẩm mang tên "Ðánh thức con
rồng ngủ quên" xuất bản ở
trong nước. Nhưng liệu "Con Rồng"
có chịu thức không, hay vì say
men chiến thắng vẫn chìm đắm
trong sự lường gạt là một
"Quốc gia anh hùng, là đỉnh cao trí
tuệ loài người". Kinh nghiệm cũng
cho biết, tại các quốc gia kém mở
mang, nhất là các quốc gia theo chế
độ cộng sản, tình trạng tranh tối
tranh sáng giúp cho giới lãnh đạo
lạm dụng quyền hành, hưởng
lợi nhiều hơn.
Các hành động
phản bội Tổ Quốc nêu trên của
giới lãnh đạo đảng cộng
sản Việt Nam đưa đến một
câu hỏi, tại sao họ đánh mất
bản chất con người. Họ phải
biết Trung Hoa luôn luôn ôm mộng bá
quyền, đang có hành động lấn
chiếm và gây ảnh hưởng
tại các nước Á Châu. Những
người cộng sản Việt Nam có
còn lương tri để thức tỉnh,
hay vì quyền lợi nhất thời
đã đạp đổ những
gì mà Tiền Nhân dầy công gây
dựng, lưu lại vết nhơ muôn đời.
Trần Nhật Kim
(Trich internet)
(Ðọc "Hồ
sơ đen Cộng Sản Việt Nam tư 1945 đến
nay" của Michel Tauriac/ Nguyên Văn chuyển
ngữ. Một tác phẩm vạch trần
mặt thật của CSVN do một nhà báo
Pháp viết. Giá 30 đô la, kể
cả cước phí. Xin liên lạc
Thư Quán Nguyệt San Việt Nam/ Ðịa
chỉ liên lạc PO. Box 74013 HIllcrest Park. PO, Vancouver,
BC., V5V- 5C8 – Canada. Phone/fax 604.875.9022 . Chi phiếu đề
tên NS Vietnam)
|