Tạp Chí Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt Nam Tự Do Dân Chủ
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada
Phone+Fax: (604) 875-9022 - Sau 6PM (604) 879-1179
Email: nsvietnam@yahoo.com

Cập nhật hóa hàng ngày
Chủ Biên: Hải Triều
Ðại diện nhóm Úc châu: Trương Minh Hoàng - Ðại diện nhóm Âu châu: Trần Hữu Phúc - Ðại diện nhóm Hoa Kỳ: Dương Thái Sơn - Ðại diện nhóm nội địa: Hồng Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những người góp phần đấu tranh cho một Việt Nam tự do, thực hiện bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành trên toàn thế giới.
Các Số Báo Cũ
Hà Thúc Sinh
Hoàng Ngọc Liên
Kathy Trần
Lâm Chương
Lâm Lễ Trinh
Nguyễn Thanh Hoàng
Phạm Văn Nhàn
Phan Nhật Nam
Phó Thường Dân
Sổ Tay Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Trần Viết Ðại Hưng
Tài Liệu - Góp Nhặt
Nối Kết

Bài  Mới  Nhất
CON VỊT



Tác giả Trần Gia Phụng.
In lần thứ 2 - 28CAN$/22US$


Chiến sử QLVNCH của Phạm Phong Dinh - Tái bản lần 2.
35CAN$/25US$ *


Tác giả Bùi Ngọc Tấn.
25CAN$/20US$
(Ở Mỹ bán 35US$).

* Giá bán kể cả cước phí.
Liên lạc: NS Việt-Nam.




Các tập thơ chiến đấu của 
Lê Khắc Anh Hào 
(và Ý Yên, Trần Thúc Vũ).

Nguyệt-San Việt-Nam Số 61
(Tháng 7&8/2002)

Hồ Sơ Ðen Của Cộng Sản Việt Nam 
(Nguyên tác: Viet Nam: Le Dossier Noir du Communisme - Tác giả: Michel Tauriac) 


Những Con Bò Sữa 

"Thuyền Nhân". Cái danh từ có một âm tự mà mỗi khi chính quyền Cộng Sản ở Hà Nội nghe đến nó thì họ nghĩ đến danh từ "đồng đô la". Thế nhưng cho đến bao giờngười ta mới biết hết được những bất hạnh đã xảy ra cho danh từ đó? Mặc dù danh từ "Thuyền Nhân" xuất hiện lần đầu tiên trên tờ báo New York Times bởi ngòi bút của ký giả Henry Kamm, nhưng ai cũng biết cuộc di tản bằng đường biển của người tỵ nạn Việt Nam đã bắt đầu ngay từ khi các phương tiện bỏ chạy bằng đường bay không còn hữu hiệu nữa vì Sài Gòn đã bị Cộng Sản chiếm đóng vào ngày 30 tháng Tư năm 1975. Một trong những nhóm người đầu tiên rời khỏi Việt Nam, bằng đường biển vào ngày mất nước hôm đó, là những người tỵ nạn Cộng Sản. Họ thả xuôi theo giòng nước sông Cửu Long ra đến cửa biển Cần Thơ, một thành phố lớn nhất vùng châu thổ, trên hai chiếc tầu nhỏ và một chiếc ghe, cùng với hai mười người Mỹ và trong đó có cả Tổng Lãnh Sự Mc Namarạ Cùng trong ngày hôm đó, chiếc chiến hạm Mỹ tên là Mobile, nằm ở cửa biển sông Sài Gòn, đã thấy có đến hai mươi chiếc tầu đánh cávà một chiếc tầu chở hàng cũ chứa đầy người tỵ nạn. Những người tiền phong cho cả một đám đông khổng lồ ra với hành trang tuyệt vọng. 

Ngày hôm sau, thứ Năm, mồng Một, tháng Năm, năm 1975. Ðệ Thất Hạm Ðội Hoa Kỳ, ở cách bờ biển 35 dặm, đã chứng kiến một đoàn 27 chiếc tầu nhỏ ào ạt tắp đến từ đảo Phú Quốc, một hòn đảo nhỏ cách Việt Nam 25 dặm. Trên khoang những chiếc tầu, có gần 30,000 người tỵ nạn, trong số 50,000 người mà Thủ Tướng VNCH đã quyết định cho di tản đên đảo này từ hai ngày sau khi Thủ Ðô Sài Gòn thất thủ. Rạng đông ngày thứ Sáu, mồng Hai, Tháng Năm, năm 1975, trên tầu Blue Ridge, chiếc chiến hạm chỉ huy của Hạm Ðội VII với 46 đơn vị, đã mang đến 25,000 người Sài Gòn trong số những người cuối cùng có thể thoát khỏi thành phố bị bao vâỵ Trên thành tầu, những người thủy thủ nghiêng mình nhìn xuống một cảnh tượng kinh hoàng mà họ không dám tin là sự thật: mặt biển được bao phủ bởi hàng ngày ... và hàng ngàn chiếc thuyền ghe đủ loại đủ cỡ, từ những chiếc xà lan già nua rỉ sét cho đến những chiếc thuyền đánh cá tý hon mỏng manh và lố nhố đầy người trên khoang thuyền. Những ký giả được tầu Blue Ridge cứu lên đã ước lượng là có đến khoảng 100,000 người, đó là con số những "Thuyền Nhân" đầu tiên trong lịch sử người Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản. 

Từ đêm hôm đó cho đến rạng đông ngày mồng Ba tháng Năm, năm 1975, lần lượt các nước láng giềng gần ranh giới Việt Nam cũng đã đón nhận được những người đầu tiên bỏ trốn ra khỏi nước mà hành lý mang theo là hai bàn tay trắng với trái tim rướm máu và một tâm hồn tuyệt vọng. Sau này, trước sự vượt biên thường xuyên của họ, chính những quốc gia này đã đành phải đẩy họ trở ra biển để trả lại tử thần vì không còn cách nào khác hơn được. Một chiếc tầu 8,000 tấn, có tên là Ðông Hải, đã mở đầu con đường hải lộ bi thương này khi thả lên Singapour một nhóm 822 người tỵ nạn. Trong khi đó, ngày mồng, Bốn, tháng Năm, năm1975, 4,500 người khác, trong số có 1000 thiếu nhi, được lên tầu Ðan Mạch Clara Maersk. Họ đã rất may mắn vì chiếc thương thuyền chở họ, có tên là Trường Xuân, đã rời khỏi Việt Nam ngay trước mắt Cộng Sản, và còn đang ở trong tình trạng sửa chữạ Khi sắp bị chìm thì tầu Trường Xuân được chiếc tầu cứu tinh này từ phương Bắc đến gần và cứu vớt. 

Tổng cộng, có khoảng hơn 200,000 người tỵ nạn Việt Nam đã trốn ra khỏi nước trong những ngày đầu tiên của tháng Năm. Khoảng 130,000 người được Hoa Kỳ tiếp nhận sau khi qua trạm Phi Luật Tân hay đảo Guam, một hòn đảo nằm ở vùng biển Thái Bình Dương mà trước đây có căn cứ Hải Quân của Mỹ. Những người khác, thường thì họ mang hai quốc tịch Việt Nam và Pháp nên đã được đi Pháp. Trong số những làn sóng người tỵ nạn đầu tiên có rất nhiều kỹ sư, chuyên viên đủ nghành, và y sĩ, họ đều quan ngại đến sự thù ghét mà Cộng Sản dành cho giai cấp của họ. 

Kể từ năm 1975 đến năm 1977, làn sóng "Thuyền Nhân" đã gia tăng đều đặn, và các trại tỵ nạn cũng đã được Phủ Cao Ủy Liên Hiệp Quốc (HCR) đều đặn mở ra tại Thái Lan, Mã Lai, Phi Luật Tân, và Nam Dương hàng ngày đều có thêm người tỵ nạn mới nhập trạị Các quốc gia Tây Phương đã rộng rãi chấp nhận một số đông người tỵ nạn đến tạm trú như Pháp, Hoa Kỳ, Gia Nã Ðại, và Úc Ðại Lợi (bỏ ra nhiều thời gian hơn để quyết định), ngoài ra còn có thêm một số quốc gia Âu Châu ở bên ngoài bức màn sắt. 

Cho đến đầu năm 1976, Cộng Sản Việt Nam lại càng thêm cứng rắn và sắt máu với người dân. Những lời hứa hẹn về "hoà hợp hoà giải dân tộc" đã vĩnh viễn bay biến, và các trại cải tạo tập trung đầy ắp người, dân chúng miền Nam bị công an Cộng Sản theo sát như hình với bóng, và mấy chục ngàn người dân thành phố bị đày ải đi đến các vùng khô cằn sỏi đá hay rừng thiêng nước độc mà Cộng Sản Việt Nam che đậy bằng danh từ hoa mỹ là "vùng kinh tế mới", mà ở đó người dân bước vào kinh tế vô sản với kiếp sống đọa đày và khốn khổ. Cùng trong khi đó thì "luật cải cách ruộng đất" đã tước đoạt hết đất đai của nông dân. Do đó mà người dân Việt Nam đã bất chấp thất cả mọi thử thách kể cả những kho khăn nguy hiểm ngày càng chồng chất, thậm chí có thể bị tù đày hay giết chết, họ vẫn cứ lén lút và chen chúc nhau, từng đêm đi chôn dầu vượt biên, và đuà giỡn với tử thần trên các bờ bãị Vào năm 1977, đã có hơn 10,000 "Thuyền Nhân" - danh từ này đã trở nên thông dụng - đến Thái Lan và Mã Laị Các trại tỵ nạn đã phải mở rộng thêm ra và các xứ sở đầu tiên tạm dung họ bắt đầu khó chịụ Và chỉ có một nửa đơn thỉnh nguyện di trú được các nước Tây Phương chấp thuận. 

Thừ cuối năm 1977 đến đầu năm 1978, tình trạng lại càng thê thảm hơn. 80,000 thuyền nhân đến bờ biển các nước miền Ðông và Ðông Nam Á Châu, thì có đến 70,000 người đổ xô vào chỉ riêng một nước Thái Lan. Ðó là thời điểm mà tiếng đại bác nổ dữ dội ở vùng biên giới Việt-Hoa, và "đàn anh Trung Cộng" đang vác gánh nặng ở vùng biên giới phía Nam vì những cuộc giao tranh giữa quân Khờ Me Ðỏ và bộ đội Cộng Sản Việt Nam. Biến cố này đã khiến cho 300,000 người Hoa Kiều bỏ trốn. Hoa Kiều ở miền Bắc thì chạy bộ vượt biên giới sang Trung Cộng, Hoa Kiều ở miền Nam thì dùng đường biển mà chạy lấy mạng. Cộng Sản Hà Nội lên án Bắc Kinh là muốn phá hoại tình trạng kinh tế Việt Nam khi chiếm! mất số dân cư rất năng động kia, mà đa số họ là đa ng nắm huyết mạch tiền tệ và thương mại thời đó. Con hát mạt hạng của Ðảng Cộng Sản Việt Nam, Nguyễn Khắc Viện lại rống lên những điệp khúc rẻ tiền do các quan thày của hắn ở Bắc Bộ Phủ đã soạn sẵn bài bản (SuđVietnam au fil des années, 241. Éditions en langues étrangères, Hanoi, 1984.): Các gián điệp Trung Hoa dưới sự điều động trực tiếp của tòa đại sứ Trung Hoa ở Hà Nội đã xúi giục người Hoa Kiều hồi hương "nơi đó nhà nước sẵn sàng đón rước họ để tham gia lao động tái thiết "Ðại Trung Quốc". Họ nói là người Việt Nam sẽ tàn sát họ một khi tiếng đại bác đầu tiên phát nổ ở vùng biên giới Việt-Hoạ Như thế, đối với các đảng viên Cộng Sản Việt Nam, nếu hàng trăm ngàn đồng hương của họ bỏ xứ trốn đi, thì luôn luôn là do bởi sự xúi giục từ "mạng lưới ngâØm" của những người nước ngoài đáng ghét. 

Mặc dù bên ngoài thì che đậy như thế, nhưng trên thực tế thì phỉ quyền Cộng Sản ở Hà Nội đã tìm ra hai mối lợi: một cơ hội để dứt bỏ một số dân chúng rất dễ trở nên nguy hiểm trong trường hợp chiến tranh vùng biên giới gây bất lợi, và một cơ hội khác là để nhét đầy túi tiền. Họ đã làm tiền người ra đi sau khi thẳng tay bóc lột sạch sẽ đủ mọi thứ. ngày 24, tháng 3, năm 1978, Cộng Sản Việt Nam bắt đầu tung công an ra tấn công tài sản của "giới tư sản mại bản" ở Chợ Lớn, khu vực người Hoa-Kiều tại Sài Gòn. Tất cả tài sản của cộng đồng người Hoa Kiều đều bị "quốc hữu hóa" đồng lúc với tư doanh. Bàn ghế, nhà cửa, nữ trang, qúy thạch, đồ sứ đắt tiền, và đòØ dùng các thứ đều trở thành "tài sản nhân dân". Kho tàng của chiến tranh, mà Cộng Sản Hà Nội hy vọng như vậy, để bù trừ các hậu qủa của việc bỏ trốn gây ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc giạ Không cần phải phí phạm một giây khắc suy nghĩ nào, người ta cũng có thể hiểu được rằng việc đó sẽ đưa Cộng Sản Việt Nam vào chỗ bế tắc sau nàỵ 

Vì bị khốn đốn trong tuyệt vọng, người Hoa Kiều đã bắt buộc phải đặt chân lên những con tầu. Người ta còn nhớ câu chuyện chiếc tầu hàng hải cũ kỹ tên là Hồng Hải sắp bị chìm trong hải cảng Klong ở Mã Lai, với 2,500 hành khách mà phần lớn là người Việt gốc Hoa, đã bị khước từ không cho lên bờ. Thảm cảnh này đã làm rúng động lương tâm thế giới và thúc đẩy xu hướng cứu cấp của người Tây Phương. Một trong số đó là một y sĩ người Pháp, một cựu đảng viên đã ly khai Ðảng Cộng Sản, ông ta đã tìm cách đền bù lỗi lầm vì đã hoạt động cho Cộng Sản bằng cách mua một chiếc tầu dùng để ra biển Ðông vớt người tỵ nạn, mặc dù các "cựu đồng chí" của ông thấy động cơ đó không đúng chỗ. Sự ra đi của tất cả những hành khách không ngày về đó đã được tổ chức trong bóng tối, mà mỗi người đều phải mang nợ để đáp ứng yêu sách vô hạn định. Dù cho có phải là Hoa Kiều hay không, ngày nay người ta đều có thể rời khỏi Việt Nam "bán chính thức", cho dù người Hoa Kiều bị cưỡng bách hay là do tự ý ra đi như tất cả mọi người, họ đều muốn chạy thoát khỏi nanh vuốt của kẻ áp bức là Cộng Sản Việt Nam. 

Ðể che đậy tội ác và lừa bịp thế giới, Cộng Sản Hà Nội lên tiếng xuyên tạc sự thật rằng: Làm sao dám giả định là các thuyền nhân trốn lánh một sự áp bức thường trực? Bọn này chỉ tuân theo mệnh lệnh của Washington và muốn phá hoại nền kinh tế nước nhà bằng cách tước đoạt lấy chất xám. Và những luận điệu này đã được chúng lập đi lập lại nhiều lần với báo chí Tây Phương. Chưa hết, mỗi ngày, tên bác sĩ Việt Cộng hành nghề con hát tên Nguyễn Khắc Viện, đều kể lể trong bản thông tin của bọn Phỉ Quyền Cộng Sản và trên các tài liệu tuyên truyền của chúng dành cho "người nước ngoài" rằng: Hoa Kỳ đã đề nghị cùng những người vượt biên là sẽ chở họ đi với giá từ khoảng 2,000 đến 3,000 đô la, đến tận các tầu Hải Quân Mỹ đậu ngoài khơi chờ đón. Những chuyên viên giỏi và trí thức thì không phải trả tiền gì cả, hắn ta còn dám xác nhận rằng: "Giờ đây chúng tôi có thể quả quyết rằng nhà nước không cưỡng bức một ai phải bỏ xứ ra đi, và cũng không giữ một ai muốn ra nước ngoài sinh sống." 

Thật vậy, nếu một vài người bị "lầm lạc" bởi các "lực lượng phản động ở trong nước và ngoài nước", hắn ta còn thêm vào, đó là vì "họ không có can đảm đi khai khẩn các vùng đất mới." Nguyễn Khắc Viện đưa ra thí dụ của một đồng nghiệp bác sĩ, dưới chế độ cũ thì ông bạn đồng nghiệp này "đi xe ô tô và sống trong vi la có gắn máy lạnh" và trở thành "quản lý của một bệnh viện công". Như thế thì làm sao người này có thể sống trong một "xã hội mới", thích nghi với một "xã hội cách mạng"? Còn về phần nhà nước, tuy rất tiếc khi thấy những người này ra đi, nhưng không thể làm được gì khác hơn là cầu chúc cho họ được thượng lộ bình an. 

Những bài diễn văn kiểu ngụy biện và xuyên tạc như trên, chúng ta thường thấy xuất hiện dưới ngòi bút của các ký giả Cộng Sản, là những người duy nhất vào thời điểm đó được ra vào Việt Nam, đóng kín ở phía sau bức màn sắt đầy đe dọa, từ tháng Năm, năm 1975, như một con nhím đang dương những cọng gai nhọn hoắt. Và hai mươi năm sau, nó vẫn còn nằm trong cửa miệng của một vài tay bình luận Tây Phương. Thí dụ như miệng của một phóng viên báo Pháp Ðức, Arte [Le Grand Documentaire, ngày 11, tháng 2, 1995], đã chứng kiến cảnh đào thủy lợi bằng tay không của "những người dân can đảm của mười làng ra công hợp sức", và tìm được trong "cái thú vị của sự nỗ lực chung", và để giải thích lý do tại sao mà nhiều vạn người khác quyết định trốn khỏi nước Việt Nam Cộng Sản, thì hắn ta châm biếm rằng họ không thể "có cái cảm giác xây dựng quê hương xứ sở, như là cha ông họ đã từng đánh giặc bằng vũ khí trên tay". 

Chỉ có những con hát mới biết mặt thật của họ ở phía sau lớp phấn son, và chỉ có Cộng Sản mới biết sự thật của họ ở phía sau bức màn sắt; do đó một cựu đại tá Việt Cộng như Bùi Tín thì dĩ nhiên là phải biết rõ Việt Cộng hơn một tên phóng viên của tờ báo Arte.ï Ông Bùi Tín giải thích điều đó trong quyển sách "Vietnam, La face cachée du regime", [147, Kergour, 1999], viết ít lâu sau khi ông đến lưu vong tại Paris. Việc hối lộ của các người Hoa Kiều ra đi "bán chính thức" được chính bộ Nội Vụ tổ chức. Ðược biết đó là "Kế Hoạch 2", mà mục đích được giữ kín, có cả một loạt những công tác cho phép các giới chức tổ chức cuộc ra đi của các người lưu vong mới sau khi "nhổ sạch lông" của họ một cách rất có phương pháp. Mỗi người phải trả giá vượt biên từ 3 đến 5 lượng vàng (một lượng = 36 grams), có khi gấp đôi. Nhà cửa, xe cộ, hoặc của cải để lại cho khi đến chỗ xuống tầu, thường thì ở ngay tại thành phố như Cần Thơ, bên bờ Cửu Long, chẳng hạn, người ra đi phải chịu đựng những sự bóc lột cuối cùng như: bị tịch thu do các băng đảng tự cho là có quyền lục lọi, lấy vàng, nữ trang hoặc đô la mà người tỵ nạn có thể còn cất dấu được. Sau đó thì xuống tầu với nỗi lo sợ rằng chiếc tầu chở mình sẽ có một phần hai cơ hội sẽ bị hải tặc tấn công để lấy nốt những mẩu vàng còn xót lại trên người trước khi ném họ xuống biển. Thế nhưng khi đã lên được tầu rồi vẫn còn chưa yên với tuần cảnh địa phương nếu tầu chưa ra đến hải phận quốc tế. Nếu muốn thoát khỏi không bị bắt lại, thì tốt hơn hết là đưa ra chút của cải nào còn được dấu vào chỗ kín nhất. Bằng không thì sẽ bị bắt lại, và trong trường hợp này, tội danh là phản bội và bị "đế quốc Mỹ" mua chuộc. Tội này có thể ngồi tù từ 12 năm cho đến 20 năm (sắc luật luôn luôn có sẵn để tham khảo).

Những người chọn cách đi tỵ nạn bằng đường bộ xuyên qua lãnh thổ Lào hay Căm Bốt đến Thái Lan thì gọi là Bộ Nhân (land people) . Những cuộc hành trình vượt biên đi tỵ nạn bằng đường bộ thì luôn luôn gặp nguy hiểm. Họ sẽ bi công an, hay bộ đội, hay là cảnh vệ nhân dân đuổi bắt, và có khi chỉ là người đi đường, thường là có liên hệ với Cộng Sản. Còn những người vượt biên nào "mượn được", theo với giá do quân đội Nhân Dân ấn định, một chiếc xe vận tải quân sự chở quân nhu, cho phép họ núp bên trong thùng lớn, cách này được xử dụng khá thường xuyên, nhưng có khi cũng bị ngộp thở chết vì hơi xăng, và các nạn nhân trong trường hợp này cũng khá đông. 

Những người may mắn hơn hết là có thể "kiếm" được một "giấy xuất cảnh chính thức" và vé máy bay đến tận Hoa Kỳ. Nhờ vào một kế hoạch do Liên Hiệp Quốc tổ chức với sự thỏa thuận giữa Hoa Thịnh Ðốn và Hà Nội vào năm 1979. Thế nhưng họ cũng vẫn chịu hạch sách và tống tiền thì đơn xin xuất cảnh chính thức mới qua lọt, nhiều khi phải mất đến mười năm chờ đợị Ngay chí Hoa Kỳ còn bị hạch sách đủ điều, và phải trả tiền cho từng đầu người tỵ nạn để được phê chuẩn cho phép đị 
Do đó, Cộng Sản Việt Nam đã phát minh ra được "NHỮNG CON BÒ SỮA THUYỀN NHÂN" của họ. Một nhà nghiên cứu ở Ba Lê tên là Bùi Xuân Quang, trong cuốn sách La Troisième guerre d'Indochine 1975-1099 (207-590, L'Harrmattan, 2000), ông đã tính toán "mối giao dịch" này của Cộng Sản Việt Nam, kéo dài ròng rã 20 năm kể từ 1975 đến 1995, đã mang lại cho Ngân Khố của Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam khoảng 25 TẤN VÀNG. Với chừng ấy vàng mà người ta thấy xuất hiện trên thị trường tiền tệ Tây Phương dưới hình dạng các thỏi vàng mang ấn dấu của Việt Nam. Chủ yếu của nó là dùng vào việc bồi hoàn những số nợ mà bọn Phỉ Quyền Cộng Sản Việt Nam đã ký kết với Cộng Sản Nga và các xứ dân chủ nhân dân cùng tiền mua vũ khí chiến tranh, số vàng ấy lên đến trị giá khoảng 2.5 tỷ Mỹ Kim, tính trong khoảng thời gian từ năm 1979 đến năm 1983. 

Hiệp sống với nỗi ám ảnh là bỏ nước ra đi. Tôi còn nhớ tiếng nói của người "Thuyền Nhân" mà chúng tôi đã từng gặp nhau trên bãi biển Songkla tại Thái Lan giữa những người khác, bên cạnh chiếc tầu bị hư của họ, mà tôi đã được nghe anh kể lại câu chuyện thống khổ của anh. Và cho đến bây giờ bên tai tôi vẫn còn văng vẳng lời kể lại của anh: 

Vào một đêm nọ ở Việt Nam, một tên cán bộ Cộng Sản Việt Nam đã nói khẽ vào tai anh: "hai ngàn đô la, hay 4 cây vàng ..." Anh đồng ý với mối làm ăn; thế nhưng khi đến chỗ hẹn thì Hiệp mới nhận ra mình đã bị cướp. Thuyền thì chẳng thấy đâu mà vàng thì bị mất. Ðó là cái hoạ luôn luôn rình rập và cũng là một trong những cái giá mà những người muốn vượt biên tìm tự do. Làm sao để tránh khỏi bị lừơng gạt, cướp bóc hoặc bị tố cáo, và tìm ra đường giây tốt. Tôi biết có một "Thuyền Nhân" đã không thành công trong việc đi tỵ nạn mặc dù đã thử đến 27 lần. Hiệp thì đi hụt 3 lần, và sau đó thì anh quyết định tự tổ chức lấy chuyến vượt biên. Anh đã lén lút tự vá víu một chiếc tầu đánh cá cũ. Từng đêm rồi lại từng đêm cứ lo bào rồi lại trét, và những đêm trắng đêm hì hục sửa chữa máy móc. Thế rồi cuối cùng thì ngày khởi hành cũng đến, chiếc tầu đánh cá cũ kỹ của anh mang theo 85 người rời bãi xuôi giòng và trôi dọc theo những con kênh chây dài ra biển. 

Hiệp lặp lại cho chúng tôi nghe với một vẻ thống khổ: "Chúng tôi có 85 người trên chiếc tầu này và đã rất sung sướng vì có thể rời khỏi Việt Nam. Bây giờ thì ông hãy nhìn xem, ngày hôm nay chúng tôi chỉ còn có hai ngườị Hai người sống sót duy nhất là Ngọc, con gái của chị tôi và tôi". Với cái đầu ướt lạnh như con mèo chết đưới và thân thể đói khát gầy trơ xương sườn như một con chó hoang, cùng với đứa bé gái lên sáu tuổi có đôi mắt nai khờ. Chúng tôi đã khóc. Nước mắt của những kẻ thừa mứa tự do đã đổ xuống mặn ướt câu chuyện phiêu lưu liều chết tìm tự do của anh. Anh đã bị kẹt lại ở trại Songkla này cùng với Ngọc sau khi thoát chết khỏi những bàn tay đẫm máu của bọn hải tặc Thái Lan đã giết chết chị anh cùng tất cả hành khách trên tầu sau khi chúng bắt mang theo gần hết phụ nữ. 

Vào tháng 10 năm 1978 có 20,000 người tỵ nạn đặt chân lên bờ biển Mã Lai, và chỉ đến tháng 12 năm đó con số đã lên đến 50,000 ngườị Cộng thêm vào con số 5,000 người đi chân đất với ước vọng đã đến được bến bờ tự do. Chỉ trong vòng 4 tháng cũng đủ để cho hòn đảo hoang Pulau Bidong của Phi Luật Tân đón nhận được 20,000 kẻ bị biển ruồng bỏ. Vào khoảng giữa năm 1979, có 5000 người tỵ nạn mới đến thêm vào con số những người anh em khốn khổ trong trại tỵ nạn Hồng Kông, trong khi có 90,500 người khác làm đầy ắp trại tỵ nạn Mã Lai. Những người mà cảnh sát địa phương từ chối đẩy ra biển đã trôi giạt đến Nam Dương, hoặc xa hơn nữa, đến tận Nam Hàn, hay Nhật Bản, và có khi đến tận Úc Ðại Lợị Hãy thử nhắm mắt và tưởng tượng cuộc hành trình liều chết để tìm tự do của họ trên khoang một con tầu bé nhỏ mong manh ... 

Bất thình lình, một hồi chuông báo động nổi lên khi hai nước Thái Lan và Mã Lai tuyên bố rằng từ nay về sau họ sẽ không nhận thêm thuyền nhân mớị Bị dồn vào đường cùng, Liên Hiệp Quốc phải triệu tập một hội nghị quốc tế ở Genève và thu hoạch được ba kết qủa là: Các quốc gia ở vùng duyên hải bảo đảm là thuyền nhân sẽ không bị đẩy lui ra biển; các quốc gia tiếp nhận họ gia tăng thêm một số lượng hạn định tái định cư bổ túc là 130,000 người; và quan trọng nhất là Hà Nội, lo ngại thể diện của chúng bị bôi đen tối dần ở biển Ðông trước sự bất mãn của cả thế giới, nên đã cho phép thuyền nhân có thể ra đi chính thức hợp pháp "trong vòng trật tự", bằng phương tiện hàng không, chương trình này Liên Hiệp Quốc gọi là "Ra Ði Trong Vòng Trật Tự" (Orderly Departure Program) viết tắt là ODP. 

Kể từ giờ phút đó, nhịp điệu những người vượt biển đến các trại tỵ nạn thưa thớt một cách rõ rệt. Mực độ từ 300,000 người vào năm 1979, xuống chỉ còn 24,500 vào năm 1984, và đến năm 1986 chỉ còn 19,500 ngườị Cũng vào năm đó, lần đầu tiên, các cuộc ra đi tỵ nạn chính thức bằng hàng không với giấy nhập cảnh nhiều hơn con số những người trôi dạt đến bằng đường biển. Kết quả của hội nghị thuyền nhân tại Genève đã thỏa mãn thấy rõ, nơi mà LH Q nhắm vào một giải pháp mới cho vấn đề "Thuyền Nhân". 

Nhưng chỉ hai năm sau thì tình hình lại đổi ngược và đã làm cho thế giới thất vọng. Những người tỵ nạn đi tìm tự do lại trở ra biển: con số tăng lên 45,000 người vào năm 1988 (25,000 người nhiều hơn hai năm trước đó), 71,300 người vào năm 1989, trong số đó phải cộng thêm vào khoảng 17,000 người "bộ nhân". Vấn đề trở nên không giải quyết được và các quốc gia ở vùng duyên hải bắt đầu nổi giận. 

Ðó chính là lý do mà tại trại tỵ nạn Hồng Kông, nơi mà mỗi ngày có đến 34,000 "Thuyền Nhân" mới nhập trại, và chính quyền Hồng Kông quyết định từ đó về sau họ sẽ đưa những người mới đến vào trại tạm giam. Thế là những cuộc nổi loạn và tự tử nối tiếp theo quyết định của chính quyền Hồng Kông. Ðể đóng chặt cánh cửa ngăn chậ n hẳn cái mạch chính của làn sóng vượt biển tìm tự do không ngung này, các quốc gia tiếp nhận di trú lại tập họp lại thêm một lần nữa và họ đã tìm ra một biện pháp mới gọi là PAG (Plan d'Action Global) tức là chương trình Hành Ðộng Toàn Cầụ Bất cứ thuyền nhân nào đến trước ngày 13 tháng 3 năm 1989 ở một quốc gia lân cận Việt Nam, kể từ đó, trên phương diện hành chánh, được xem như một người có quyền xin cư trú, nghiã là một người tỵ nạn chính trị hoàn toàn có quyền hy vọng được đi sống hết cuộc đời mình ở một nước Tây Phương. Dĩ nhiên là với điều kiện xứ này phải bằng lòng cấp cho họ một visa nhập cảnh. Ngược lại, tất cả hồn tồn khác đối với một người tỵ nạn lên bờ sau ngày 19 tháng 3, năm 1989. Họ bị xắp loại là di dân kinh tế, người đó phải chứng minh dược mình có một sự sợ hãi co căn cứ về việc bị xử tội, nếu khơng thì người đó bị đe dọa là sẽ bị cưỡng bách hồi hương. Trừ phi chính mình tự quyết dịnh quay về nước. 

Ðó là điều Hiệp đã lầm. Quy chế tỵ nạn chính trị của anh bị từ khước, anh biết mình không còn cơ hơi được nhận vào Hoa Kỳ. Tuy nhiên, anh cũng phân vân rất lâu trước khi chấp nhận ý tưởng hồi hương. Bởi vì cũng như phần đông các người tỵ nạn khác, anh sợ bị bắt nhốt vào tù một khi trờ về Việt Nam. Anh chưa bao giờ làm chính trị, nhưng có người anh từng chiến đấu trong quân dội Việt Nam Cộng Hòa, và ông nội anh làm việc cho chính phủ bảo hộ. Hai vết đen đó trên lý lịch cá nhân có thể khiến anh phải trả giá rất đắt. Nhưng rồi có một lá thư từ Sài Gòn gửi đến trại tỵ nạn Thai Lan PhanatNikhom, nơi anh tạm trú, đã trấn an anh được phần nào. Một trong những người bạn vượt biên cũ của anh, đã tình nguyện về Việt Nam, cho anh biết là mọi chuyện khá tốt đẹp ở đó, và khuyến khích anh cùng về. 
Năm 1993, chúng tôi gặp lại Hiệp ở quê hương anh, và lại khóc lần nữạ Thế nhưng lần này thì chúng tôi cùng khóc mừng rỡ khi thấy anh đã thoát nạn. Anh là một trong 110.000 cựu "thuyền nhân" kể từ nam 1989 đã chọn hồi hương thay vì tiếp tục chết dần mòn ở một trại tỵ nạn Á Châụ Nhờ có sự giup đỡ tài chánh của Phủ Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (HCR) và Liên Minh Âu Châu, mà giờ đây anh trở thành chủ nhân của một xưởng pha chế nước mắm và một căn nhà nho nhỏ hai phòng, gần Vũng Tầu, mà tên cũ người Pháp gọi là Cap Saint-Jacques, trên bờ biển Miền Nam mà ngày xưa anh đã bỏ ra đi tìm tự do không bao giờ có, và tưởng rằng không bao giờ anh sẽ phải trở lại nởi đâỵ Anh sống cùng bà góa phụ của một trong những người bạn đã biến mất trên biển đi tìm tự do, cùng với người em gái và ba đứa con của bà. "Nhà của chúng tôi tuy nhỏ như chúng tôi có thể chứa được đủ thứ. Ở trên thuyền còn ít chỗ hơn." 

Trong những cuộc vận động và thoả thuận cùng Hà Nội, Liên Hiệp Quốc đã cố gắng tạo điều kiện tốt cho những người cứng rắn, ngõ hầu giúp cho họ tự quyết định sắp xếp quay về. Họ cho chiếu những cuốn phim quay tại Việt Nam mà trong đó cho thấy cảnh những người cựu thuyền nhân tình nguyện hồi hương "sống như những ông hoàng". Các cán bộ Cộng Sản còn đến gặp họ để tâng bốc. Họ gáy lên những điệp khúc tuyên truyền nào là Việt Nam đã thay đổi, và ở đó người ta sống tự do và ai đói thì cứ ăn. 

Bọn Phỉ Quyền Hà Nội có thể tự khen chúng. NHỮNG CON BÒ SỮA THUYỀN NHÂN ÐÃ MANG ÐẾN CHO BỌN PHỈ QUYỀN CỘNG SẢN HÀ NỘI RẤT NHIỀU QUYỀN LỢI. CHƯA HẾT, NHỮNG CON BÒ SỮA VẪN CÒN TIẾP TỤC CUNG CẤP SỮA DÙ Ở TẬN BÊN KIA BỜ ÐẠI DƯƠNG. 

Qua những gói qùa họ gởi về cho gia đình mà những người tỵ nạn không bao giờ ngừng gởi về nuôi thân bằng quyến thuộc còn kẹt lại ở Việt Nam, bắt đầu từ ngày đầu tiên họ đặt chân định cư trên một quốc gia tự do. Bằng những đồng tiền mồ hôi nước mắt mà họ không bao giờ ngưng chuyển về ngõ hầu giúp đỡ những người thân sống còn. Và bằng sự hiện diện của họ bởi vì ngày nay họ được phép về nước nghỉ hè bên cạnh thân bằng quyến thuộc. Một ước tính vào năm 1999 cho thấy có đến hai tỷ đồng Ðô La hàng năm họ đã mang lại cho Phỉ Quyền Cộng Sản, tức là một phần ba ngân sách của Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam. 

GẦN HAI TRIỆU NGƯỜI VIỆT NAM ÐÃ CHỌN ÐỜI SỐNG LƯU VONG NƠI XỨ LẠ QUÊ NGƯỜI THAY VÌ LÀM NÔ LỆ CHO CỘNG SẢN, HÀNG TRĂN NGÀN NGƯỜI ÐÃ GỤC CHẾT TRÊN ÐƯỜNG TRỐN CHẠY NANH VUỐT CỘNG SẢN VIỆT NAM. KẺ NÀO ÐÃ DÁM ĂN NÓI NGƯỢC NGẠO, VÀ TUYÊN TRUYỀN LÁO KHOÉT RẰNG TOÀN THỂ NHÂN DÂN MIỀN NAM VIỆT NAM ÐOÀN KẾT CÙNG CÁC "ANH HÙNG GIẢI PHÓNG" VÀO NĂM 1975 ??? 

Nỗi ám ảnh bỏ nước ra đi của Hiệp. Tôi còn nghe anh nói, run rẩy trong bộ đồ bà ba ướt sũng nước biển, gia tài duy nhất còn sót lại trong đời anh. Giữa vùng vịnh Thái Lan, tiếng máy tầu của Hiệp hình như văng vẳng tiếng kêu của những linh hồn lìa xác. Thức ăn và nước uống đều sắp cạn. Những người đàn bà qùy trên khoang tầu khấn nguyện trời đất. Phải chăng trời đất đã chấp thuận lời cầu nguyện của những thuyền nhân vừa mới thoát ra khỏi nanh vuốt Cộng Sản và đang dẫy trên giữa lòng đại dương? 

Vào giữa trưa ngày thứ sáu, có một chiếc thuyền lướt sóng cha,y nhanh về phía họ. Ðó là một chiếc thuyền đánh cá Thái Lan. Rồi hai chiếc ... rồi ba chiếc .... Thoát Nạn chăng ? Nhưng ... Than ôi, đó là những chiếc thuyền hải tặc Thái Lan. Chúng cướp bóc trên tầu, giết chết những người đàn ông kháng cự, và bắt đi 18 người đàn bà trẻ nhất, rồi bỏ đi sau khi đâm thủng tầu. Những người Việt Nam cố bám vào thân tầu thì bị chúng dùng gậy đập chết. Khi trời sáng thì chỉ còn hai người sống sót duy nhất đang bám víu vào sự sống cuối cùng là chiếc thùng đựng nước bằng nhựa hóa học mà định mệnh của học bập bềnh theo sóng biển vô tình. Hai người đó là Hiệp và Ngọc, cô bé gái có đôi mắt của con nai bị thương vừa thoát chết dưới lưỡi hái của tử thần. Tôi nhìn cô bé đầu nghiêng mắt nai, tựa cằm trên bàn, và đăm đăm nhìn tôi với ánh mắt để đờị. Dường như tất cả tuổi thơ đã bỏ em mà đi. Cô bé chỉ còn lại một khoảng trống rỗng của đời ngườị. Một chiếc bình hoa tuyệt mỹ đã rơi xuống bên thềm địa ngục và tan vỡ giữa trần gian. 

Ðó là lịch sử của những người chạy trốn nanh vuốt Cộng Sản mà đời gọi họ là "THUYỀN NHÂN", và cũng có những người còn mệnh danh họ là kẻ "CHẾT ÐUỐI CHO TỰ DO". Lịch sử của một dân tộc trong suốt 20 năm trường đã bị tàn hại dưới nanh vuốt của một thứ chính trị đầy thù hận và kỳ thị của bất cứ một chế độ Cộng Sản nào.

HÀ NỘI: Ðồng minh tội ác của Bắc Kinh 

Trong suốt chiều dài lịch sử của đảng cộng sản Việt Nam, chế độ Hà Nội đã nhiều lần đi giây giữa Liên Sô và Trung cộng. Ðặc biệt sau khi Trung cộng chiếm trọn lục địa năm năm 1949, cộng sản Việt Nam đã cần sự giúp đỡ của Trung Quốc, và chính sự hỗ trợ này đã làm thay đổi tình hình quân sự và ảnh hưởng cả về chính trị, kinh tế, văn hóa lẫn xã hội tại Việt Nam, đánh dấu một giai đoạn đẫm máu nhất và biến đổi nếp sống văn hóa cổ truyền cũng như biến phong trào dành độc lập dân chủ của dân tộc thành phong trào cộng sản. 

Ảnh hưởng của Trung Quốc đối với các chế độ cộng sản Á châu thật rõ rệt. Hồi ký của Hoàng Văn Hoan tiết lộ từ năm 1950 đến 1954 Trung Quốc đã huấn luyện bộ đội và cán bộ hành chánh cho Việt Minh. Trong khoảng từ năm 1965 đến 1970 khỏang 30 ngàn lính Trung Quốc sang giúp quân đội Bắc Việt trong cuộc chiến xăm lăng miền Nam. Tướng Võ Nguyên Giáp đã tuyên bố: "Sau năm 1950, quân đội và nhân dân ta đã học được những bài học quý giá từ quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc. Chúng ta đã học hỏi tư tưởng quân sự của Mao Trạch Ðông. Ðó là yếu tố quan trọng giúp quân đội chúng ta trưởng thành và đưa chúng ta tới những chiến thắng liên tiếp." Sự gắn bó của phong trào cộng sản tại hai quốc gia này đã gây ra những tai họa khiến dân chúng phải chịu nhiều thảm cảnh.

Cách mạng Văn Hóa 

Dưới thời Mao Trạch Ðông, để tạo dựng một lực lượng chịu hy sinh cho cách mạng, các binh sĩ và bộ đội chính quy thường được tuyển mộ từ những lớp người sống bên lề xã hội, trong đó có trộm cướp, ăn mày, những người đâm thuê giết mướn. Từ năm 1926, Mao Trạch Ðông có ý định cho những người thuộc thành phần này nắm giữ vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng. Ông đã nhận định: "Những người thuộc thành phần này có thể chiến đấu hết sức can trường và nếu được hướng dẫn đúng mức họ sẽ trở thành một lực lượng cách mạng thật sự". Với những ưu đãi đó thành phần này đã khởi đầu những cuộc thanh trừng trong nội bộ đảng, và khuynh hướng này đã gia tăng tội ác.

Một hình thức thanh trừng khác là "phê và tự phê" trong đó có những vụ bắt giam, nhục mạ và đánh người trước sự chứng kiến của dân chúng. Sự bắt bớ, thủ tiêu các đảng viên trở lên thường xuyên gây lên một cuộc khủng hoảng trong đảng. Trước nguy cơ xáo trộn nội bộ đảng trở thành nghiêm trọng, Mao Trạch Ðông đã phải tuyên bố: "Chúng ta không nên giết người, có nhiều người đáng lý ra không nên bị bắt giam", và trong một hội nghị cán bộ cao cấp ông đã phải lên tiếng tạ lỗi, nhưng vẫn ngấm ngầm thi hành những thủ đoạn bá đạo giết hại người đối lập. 

Trong thời gian Mao Trạch Ðông nắm quyền, theo ông Margolin, Mao có nhiều quyền sinh sát đến nỗi người ta ví ông như một vị hoàng đế thời phong kiến, với tính tình bất thường, kiêu căng, những vụ sát nhân khủng khiếp với nếp sống trụy lạc, bá đạo. Người ta ước tính dưới thời Mao Trạch Ðông cộng sản đã gia hại từ 6 đến 10 triệu người. Thêm vào đó hàng 10 triệu người khác bị mang danh "phản cách mạng" đã chôn vùi cuộc đời trong các nhà tù và có tới vài chục triệu người chết dần mòn trong các nhà tù đó. Và gần đây, hồi tháng 6 năm 1989 tại quảng trường Thiên An Môn, khoảng môt ngàn người dân vô tội khao khát tự do đã thiệt mạng trước họng súng của quân đội Trung Hoa. Trước thảm trạng này Ðặng Tiểu Bình đã tuyên bố l! à đối với sự tàn sát này: "không nghĩa lý gì so với số tử vong của những biến cố trong thời cận đại của Trung Quốc."

Theo chân Trung Quốc, đảng cộng sản Việt Nam triệt để áp dụng chính sách "phê và tự phê" và "tam cùng" (cùng ăn, cùng ở, cùng làm) trong đời sống dân chúng và trong các cơ quan chính quyền thuộc đảng và nhà nước. Ðời sống cá nhân của người dân trở lên bất ổn, luôn bị nhòm ngó theo rõi, nghi ngờ những người xung quanh. Chính đường lối phê bình đã đưa tới thù hận cá nhân mà việc chỉnh huấn trong nội bộ đảng đã khiến cho nhiều ngàn đảng viên bị chết oan uổng. 

Phong trào Cải cách ruộng đất 

Phong trào "Cải cách ruộng đất" tại Trung Hoa đã tàn phá hàng trăm ngàn ngôi làng, và khi cộng sản chiếm được ưu thế vào năm 1948, họ không còn thả tù và cũng vì thế các nhà tù đông nghẹt người. Nhiều trăm ngàn người bị bắt giam và các trại lao cải đã trở thành các đơn vị sản xuất cho nhu cầu chiến tranh. Mao Trạch Ðông còn lợi dụng và khai thác sự bất mãn của nông dân để phát động phong trào cải cách. Những phần tử khích động chia nông dân làm bốn nhóm: cố nông, bần nông, trung nông và phú nông và bất cứ ai nằm ngoài bốn nhóm trên đều xem là địa chủ và liệt vào đối tượng phải loại bỏ, đã gây ra tình trạng chia rẽ trong dân chúng. 

Từ cách mạng văn hóa đến cải cách đất đai, guồng máy đàn áp vẫn tiếp tục vận hành. Các phong trào này tuyên bố đã đạt thành quả tốt đẹp, điều này chứng tỏ cuộc đàn áp được thực hiện khốc liệt đến nỗi không còn lại bao nhiêu đối thủ, và sự đàn áp vẫn tiếp tục khủng bố. Người ta chưa biết rõ con số nạn nhân của phong trào cải cách ruộng đất tại Trung Hoa là bao nhiêu, nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng số người thiệt mạng trong thời kỳ này phải từ 2 đến 5 triệu người. Thêm vào đó có tới 4 đến 6 triệu người bị đưa vào các trại lao cải. 

Tại Việt Nam, cuộc "cải cách ruộng đất" được thực hiện cùng lúc với "chỉnh huấn" đã vượt xa Trung Quốc về phương diện tàn bạo. Chính sách "cải cách ruộng đất" bắt đầu từ năm 1952 ở các vùng quê hẻo lánh, đến năm 1953, ông Trường Chinh, Tổng Bí Thư đảng đọc một báo cáo về chính sách "cải cách ruộng đất" và quốc hội đã biểu quyết luật "cải cách ruộng đất" vào tháng 12. Những người giầu có ở nông thôn, thành phần có nhiều ruộng và trâu cầy, đã bị đưa ra đấu tố tại một phiên xử của Tòa án Nhân dân. Lúc đầu chỉ những đại địa chủ bị đưa ra xét xử và hình phạt thường là tử hình và tịch biên gia sản để chia cho giới vô sản. Chính sách "cải cách ruộng đất" trong giai đoạn này chưa có gì khốc liệt, vì cộng sản miền Bắc vẫn muốn giữ dân miền Bắc ở lại. Nhưng kể từ sau phong trào di cư chấm dứt vào tháng 5 / 1955, công cuộc "cải cách ruộng đất" được thi hành triệt để và toàn diện. Các thành phần thuộc giai cấp địa chủ hay phú nông đều bị thanh toán, dù họ đã từng đóng góp rất nhiều công và của cho kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngoài thành phần địa chủ và phú nông, những ngư! ời của đảng giữ vai trò lãnh đạo tại nông thôn cũng bị chung số phận. Lực lượng đóng vai trò tiêu diệt giới địa chủ là thành phần vô sản, là những người sẽ nắm trọn quyền cai trị ở nông thôn.

Ðể thực hiện công cuộc "cải cách ruộng đất", cộng sản miền Bắc đã thiết lập các đoàn và các đội cải cách có quyền quyết định mọi việc. Ông Trường Chinh là người chỉ đạo công cuộc "cải cách ruộng đất" ở Trung ương, và người trực tiếp điều khiển công tác là ông Hồ Viết Thắng, còn Tố Hữu phụ trách công tác tuyên truyền.

Tại mỗi tỉnh có khoảng 10 đoàn cải cách với tổng số nhân sự lên đến 1000 người , mỗi đoàn chia ra làm nhiều đội. Ðoàn nhận lệnh từ trung ương, và chỉ huy trực tiếp các đội. Ðội được lực lượng du kích có võ trang tại địa phương giữ an ninh và uy hiếp tinh thần dân chúng. Các đoàn và đội được học tập chỉ thị của trung ương trước khi phát động cuộc cải cách. Với quyền hành tuyệt đối trong tay đội và đoàn cải cách đã ám ảnh tinh thần dân chúng nông thôn qua câu nói 'nhất đội nhì trờí. Ðội có quyền quy định ai là địa chủ, có quyền giải tán chi bộ đảng ở địa phương nếu phát hiện có liên hệ với thành phần địa chủ, phú nông hay phản động. Ðội cũng có quyền truy nã, bắt giam và cô lập địa chủ và gia đình! của những người này. Những hình phạt tử hình hay tù đầy và tịch biên gia sản đều do đội quy định trước. Phiên xử công khai chỉ là một hình thức hợp thức hóa quyết định của đội.

Tại miền Bắc, việc xác định thành phần giai cấp như sau:

- Cố nông là thành phần nghèo nhất. Họ không có nhà cửa, ruộng vườn, trâu bò và đi làm thuê hay ở đợ cho người khác.

- Bần nông là những người có nhà cửa và có vài sào ruộng tự canh tác lấy. Lợi tức không đủ sống nên thuê ruộng làm thêm hay đi làm thuê cho địa chủ. Theo cộng sản hai thành phần trên là thành phần bị bóc lột sức lao động và là giai cấp tiền phong của xã hội chủ nghĩa. 

- Trung nông là những người có ít ruộng đất tự canh tác và không thuê người khác làm cho mình. 

- Phú nông là thành phần có ruộng và trâu cầy và mướn thêm người khác làm giúp. 

-Thành phần chót là địa chủ, những người có nhiều ruộng đất. Họ không tự canh tác và sống trên sức lao động của người khác. 

Theo chính sách "cải cách ruộng đất" khởi đầu, nếu là địa chủ, cường hào ác bá, có nợ máu thì bản án thường là tử hình. Trong trường hợp bị tuyên án tử hình, đương sự bị hành quyết ngay trước mặt mọi người sau phiên xử. Xác của nạn nhân được hất xuống một hố đào sẵn bên cạnh. Có trường hợp nạn nhân bị chôn sống hay dưới những hình thức tàn nhẫn khác.

Hậu quả sai lầm trong "cải cách ruộng đất" đã đưa tới việc cải tổ trong nội bộ đảng. Ông Trường Chinh mất chức Tổng Bí thư, còn Hồ viết Thắng rút ra khỏi Ban chấp hành Trung ương. Số nạn nhân của cuộc "cải cách ruộng đất" cho đến nay vẫn chưa được xác định. Có người cho con số đó lên tới hàng trăm ngàn, nhưng theo ông Hoàng văn Chí, con số đó phải nhiều hơn nữa. Vì bên cạnh những nạn nhân còn những người tự tử vì bị làm nhục, bị bỏ đói vì bị cô lập không có ai dám giúp đỡ. Nhưng tai hại hơn số nạn nhân bị bức tử, việc đấu tố đã làm hệ thống gia đình tan vỡ.

Nhiều người đặt câu hỏi là liệu Trung Quốc có thúc đẩy cộng sản Việt Nam tiến hành cuộc "cải cách ruộng đất" hay không. Trên thực tế Trung Quốc đã phái một số cố vấn giám sát công cuộc cải cách ruộng đất tại Việt Nam. Theo hồi ký của Hoàng Văn Hoan, "Giọt nước trong biển cả", khi ông trở lại Bắc Kinh, Thủ tướng Chu Ân Lai có hỏi: "Việc sai lầm trong cải cách ruộng đất có liên quan gì đến các đồng chí cố vấn Trung Quốc không?" Ông Hoàng văn Hoan đã trả lời: "Kinh nghiệm cải cách của Trung Quốc rất tốt. Ủy ban cải cách ruộng đất ở Việt Nam phạm sai lầm, như tăng thành phần địa chủ lên quá nhiều, đánh vào phần lớn trung nông và phú nông. Ðánh vào những người chỉ có ít ruộng đất nhưng nguồn thu nhập chính là ở! ngành nghề khác. Ðánh vào địa chủ kháng chiến, những người có công với cách mạng và tệ hại hơn nữa, đánh cả vào các cơ sở đảng. . ." Qua những lời trình bầy của ông Hoàng Văn Hoan với Thủ tướng Trung Quốc, dù nói lên một thực trạng, nhưng vẫn mang sắc thái một lời 'báo cáó với quan thầy. 

Phong trào Trăm hoa đua nở 

Phong trào "Trăm hoa đua nở" đã làm tiêu tan cảm tưởng lạc quan của giới trí thức Trung Hoa sau một thời gian ngắn. Thọat đầu, Mao Trạch Ðông khuyến khích mọi người tự do bầy tỏ bất mãn, sau đó Mao Trạch Ðông đã tìm cách triệt hạ những người này, vì theo Mao, họ có tư tưởng độc hại. Hàng trăm ngàn người tin tưởng ở lời nói của Mao nên nhiệt liệt hưởng ứng, họ đã lọt vào bẫy và bị đàn áp dã man trong phong trào chống xét lạị

Tại Việt Nam từ năm 1950 trở đi, khi có sự hiện diện của các cố vấn trung Hoa, các văn nghệ sĩ chân chính còn giữ được bản chất cao quý của người cầm bút đã ngưng sáng tác, còn những nghệ sĩ kháng chiến không sáng tác được tác phẩm nào giá trị, ngoại trừ những bài thơ ca tụng đảng và bác. Ðầu năm 1956 nhà xuất bản Minh Ðức cho ra cuốn sách nhan đề "Giai phẩm 1956" có nhiều bài nêu ra những thối nát của chế độ. Sau đó đến "giai phẩm xuân" của Trần Dần đã nói lên tiết tháo của văn nghệ sĩ Bắc Hà. Sang tháng 9 tờ "Nhân văn" ra đời nhằm đấu tranh về chính trị với mục đích nhắm vào giới lãnh đạo. Cuối cùng Hồ Viết Thắng phải nhận sai lầm về "Cải cách ruộng đất" và Tướng Võ Nguyên Giáp phải thay mặt đảng nhận k! huyết điểm. Ðảng đưa ra chiến thuật hầu gây khó khăn cho giới làm báo như ra lệnh cho mậu dịch không cấp giấy cho báo đối lập, khủng bố những người phát hành kể cả độc giả. Thấy tình trạng chống đối ngày càng lan rộng, ngày 15-12-1956 ông Hồ Chí Minh ký sắc lệnh "tước quyền tự do ngôn luận của báo chí. . ." Sau khi sắc lệnh ra đời các báo chỉ chích đảng đều đóng cửa, các văn nghệ sĩ ngoài đảng bị đưa đi học tập cải tạo, một hình thức an trí tại những nơi rừng thiêng nước độc. 

Chính sách cải tạo tại miền Nam 

Theo bài học Trung Quốc, sau khi chiếm miền Nam vào tháng 4/1975, cộng sản Việt Nam đã thi hành "chính sách cải tạo" thật tàn nhẫn tại miền Nam. Ðối với chính sách cải tạo, ông Phạm Văn Ðồng ra lệnh: "không bắn, phí đạn. Bắt đi lao động khổ saị" Do đó, hàng trăm ngàn quân, cán, chính và các vị lãnh đạo tinh thần đã nhập trại cải tạo. Người ta không biết chính xác về số trại và số người miền Nam bị bắt vào các trại cải tạo là bao nhiêu. 

Ôạng Phạm Văn Ðồng khi tới Pháp đã trả lời báo chí: "Hiện nay Việt Nam chỉ còn giam giữ 5% thành phần chế độ cũ." Lời tuyên bố trên vẫn không nói rõ con số cải tạo là bao nhiêu. Cho đến khi Nguyễn Cơ Thạch trả lời phóng viên Kate Wenner của đài BBC: " Trong số 2 triệu rưỡi người dính líu đến chế độ cũ hay phục vụ cho Mỹ, không ai bị kết án tử hình." Chúng ta mới tạm nhận biết con số 5% của 2 triệu rưỡi là 125,000 người bị giam vô thời hạn. Theo báo cáo của Aurora Foundation công bố năm 1989, con số người bị giam từ 50,000 đến 500,000 người, và con số mà bản báo cáo cho là đúng nhất là từ 200,000 đến 300,000 người, và số trại cải tạo được phỏng chừng là 150 trại. Nhưng sau ngày 30/4/1975 ngoài số trại nằm trong danh sách thuộc Bộ ! Nội Vụ, còn rất nhiều phòng giam tập thể được thiết lập tại các xã ấp đến quận tỉnh không được báo cáo lên trung ương, do đó số người bị bắt phải nhân lên gấp bội.

Ngoài những người bị bắt giam đưa vào trại cải tạo, số người bị hành quyết sau năm 1975 cũng khó mà biết chính xác. Theo ước tính của các nhà nghiên cứu số nạn nhân có thể lên tới khoảng gần một trăm ngàn người. Ngoài ra số tù nhân chết do bệnh tật vì thiếu thuốc chữa trị, số người chết vì thiếu chất dinh dưỡng và một số tử nạn do lao động cũng không được công bố và nằm ngoài con số nêu trên.

Song song với chính sách cải tạo, đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam cũng nhắm vào thành phần tư sản, gán cho họ những tội trạng như "phản động hay bóc lột xương máu của nhân dân", hầu đưa họ vào tù để chiếm đoạt tài sản. Cũng như cộng sản Trung Hoa, cộng sản Việt Nam áp dụng chính sách đốt sách báo, kinh điển và loại bỏ nền âm nhạc cổ truyền của dân tộc. Nhưng điều quan trọng hơn nhất là đãợ phá vỡ hệ thống gia đình của người miền Nam và dẫn dắt lớp trẻ vào con đường chỉ biết hy sinh cho đảng. 

Hiệp thương 

Trong thời gian qua, giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam luôn tán tụng Trung Quốc về lãnh vực chính trị và kinh tế và coi Trung Quốc như một mẫu mực để phát triển Việt Nam trong tương lai. Chúng ta nhận ra hành động này khi Lê Khả Phiêu tuyên bố: "Tôi mong muốn trong chuyến viếng thăm Trung Quốc được học hỏi kinh nghiệm quý giá trên đường xây dựng xã hội chủ nghĩa". Và Thủ Tướng Phan văn Khải cũng bầy tỏ: "Việt Nam mong ước được học hỏi Trung Quốc về phương diện phát triển kinh tế". Và một lần nữa sự theo đuôi của giới lãnh đạo Việt Nam thể hiện qua câu nói của Lê Khả Phiêu: "Nếu trung Quốc thành công trong công cuộc cải cách, chúng ta sẽ thành công. Nếu trung Quốc thất bại chúng ta sẽ thất bại". Thực ra, ông Hồ Chí Minh, người khai sáng đảng cộng sản Việt Nam, đã nói một câu để đời: "Mọi việc đã có Bác Mao nghĩ ra trước", nên hành động theo đuôi của lớp đàn em chỉ là bắt chước người đi trước, chạy theo vết xe cũ.

Sau khi miền Nam mất vào tay cộng sản miền Bắc ngày 30/4/75, Hoa Kỳ đã phong tỏa kinh tế Việt Nam. 19 năm sau, năm 1994, Hoa Kỳ đã quyết định bãi bỏ lệnh cấm vận và tái lập bang giao với Việt Nam vào năm 1995. Tháng 5 năm 1996, Hoa kỳ trao bản dự thảo thương ước đầu tiên cho Việt Nam. Hai bên đã thỏa thuận nội dung của thương ước vào tháng 7/1999. Nhưng vào phút chót, tháng 9/1999, Việt Nam từ chối không ký chính thức vào bản thương ước như đã dự trù, và mãi đến ngày 13/7/2000 thương ước mới được hai chính phủ Việt-Mỹ ký kết tại Hoa Thịnh Ðốn.

Sự ký kết thương ước chậm trễ về phía cộng sản Việt Nam được hiểu do sự bất đồng ý kiến trong giới lãnh đạo của đảng, mà phe bảo thủ đại diện là ông Ðỗ Mười và Lê Ðức Anh không muốn làm mất lòng đàn anh Trung Quốc. Bị kiệt quệ về kinh tế, Việt Nam phải cho áp dụng chương trình đổi mới bắt đầu vào năm 1986. Trước đó, để đổi mới kinh tế Trung Quốc theo mô thức: "Kinh tế thị trường với đặc tính xã hội chủ nghĩa". Việt Nam đã rập theo khuôn mẫu trên với một chút thay đổi: "Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa". Việt Nam cũng theo gương Trung Quốc thành lập "Xí nghiệp Quốc doanh", một nguồn tài trợ hùng hậu cho phe quân nhân và giới lãnh đạo đảng. 

Tháng 11 năm 1999, Trung Quốc đã đạt thỏa hiệp thương mại với Hoa Kỳ và được Hạ Viện Hoa Kỳ phê chuẩn vào ngày 24/5/2000. Thương ước Việt-Mỹ cũng được ký kết vào tháng 7 năm 2000, sau Trung Quốc mấy tháng. Theo giáo sư Carlyle Thayer thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu An Ninh Á Châu - Thái Bình dương đã đưa ra nhận xét sau khi thương ước Hoa-Mỹ được ký kết: "Yếu tố Trung Quốc sẽ có ảnh hưởng rất mạnh đến các cuộc thương thảo của các lãnh tụ Việt Nam trong những tháng tới. Trung Quốc đã ký. Việt Nam sẽ theo. Chỉ còn lại một câu hỏi là khi nào".

Một câu hỏi được đặt ra là tại sao bản thương ước Việt-Mỹ được soạn thảo từ năm 1996 và phía cộng sản Việt Nam đã thỏa thuận ký kết nhưng lại thay đổi ý kiến vào tháng 9/1999. Trong thời gian này hai văn bản ký kết về nhượng đất và biển cho Trung Quốc đã được thực hiện. Có phải vì sự "nhờ vả" của giới lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam mà Trung Quốc gây sức ép buộc ký kết các hiệp ước cắt đất cắt biển trước khi Việt Nam có thể bị Hoa Kỳ ảnh hưởng sau khi ký thương ước. 

Theo giới quan sát quốc tế, kinh tế Việt Nam trong những năm vừa qua có tiến bộ, mặc dù sự tiến bộ trồi sụt bất thường. Ðời sống của 79 triệu dân vẫn chưa thoát khỏi cảnh nghèo khó, nhất là tại các vùng quê, dù Bắc hay Nam, nạn đói vẫn còn đe dọa đời sống dân nghèo. Một số chuyên viên kinh tế thuộc các trường đại học hay các trung tâm nghiên cứu quốc ngoại và trong nước đưa ra một nhận định, muốn phát triển nền kinh tế èo uột của Việt Nam, nhà nước phải chấp nhận thay đổi chính sách hiện nay trong đó có việc loại bỏ xí nghiệp quốc doanh, tôn trọng quyền tư hữu và tự do phát triển cá nhân, nhất là mọi người, kể cả giới lãnh đạo đảng phải tuân thủ pháp luật. 

Các chuyên viên kinh tế đã hội ý trong một tác phẩm mang tên "Ðánh thức con rồng ngủ quên" xuất bản ở trong nước. Nhưng liệu "Con Rồng" có chịu thức không, hay vì say men chiến thắng vẫn chìm đắm trong sự lường gạt là một "Quốc gia anh hùng, là đỉnh cao trí tuệ loài người". Kinh nghiệm cũng cho biết, tại các quốc gia kém mở mang, nhất là các quốc gia theo chế độ cộng sản, tình trạng tranh tối tranh sáng giúp cho giới lãnh đạo lạm dụng quyền hành, hưởng lợi nhiều hơn.

Các hành động phản bội Tổ Quốc nêu trên của giới lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam đưa đến một câu hỏi, tại sao họ đánh mất bản chất con người. Họ phải biết Trung Hoa luôn luôn ôm mộng bá quyền, đang có hành động lấn chiếm và gây ảnh hưởng tại các nước Á Châu. Những người cộng sản Việt Nam có còn lương tri để thức tỉnh, hay vì quyền lợi nhất thời đã đạp đổ những gì mà Tiền Nhân dầy công gây dựng, lưu lại vết nhơ muôn đời. 

Trần Nhật Kim 
(Trich internet)

(Ðọc "Hồ sơ đen Cộng Sản Việt Nam tư 1945 đến nay" của Michel Tauriac/ Nguyên Văn chuyển ngữ. Một tác phẩm vạch trần mặt thật của CSVN do một nhà báo Pháp viết. Giá 30 đô la, kể cả cước phí. Xin liên lạc Thư Quán Nguyệt San Việt Nam/ Ðịa chỉ liên lạc PO. Box 74013 HIllcrest Park. PO, Vancouver, BC., V5V- 5C8 – Canada. Phone/fax 604.875.9022 . Chi phiếu đề tên NS Vietnam)


Trang bìa 
Ðầu trang