Dưới
những cánh rừng già
Truyện của Trần Hoài
Thư
Cuối cùng, ông đại
đội trưởng cho lệnh tập họp
đám tàn quân trước khi
chúng tôi vượt một trủng cỏ
tranh bạt ngàn. Ông bùi ngùi ra lệnh
mạnh ai nấy tự lo liệu lấy mình.
Chỉ có cách đó mới tránh
được cặp mắt của địch.
Chúng tôi thầy trò ôm nhau rưng
rưng. Chúng tôi bây giờ chẳng
khác đám con lạc bầy. Rừng
ơi núi ơi, phía xa, thấy những
ngọn núi chìm ẩn trong mây và
sương. Chim chóc kêu vang động,
nhưng trong lòng chúng tôi là những
giọt nước mắt...
Những người lính
Thượng thì xì xào với
nhau sau đó họ tách rời chúng
tôi. Ðông, người lính truyền
tin rất hiểu tiếng Thượng cho tôi
biết là họ muốn trở lại
buôn bản của họ. Ðông,Tròn
đòi theo tôi. Theo tôi để làm
gì. Ði đâu. Về đâu. Giữa
khu rừng già bao bọc bởi những
tai ách này. Còn thiếu úy Phương,
một nhà thơ tài hoa mà không
ai biết, một người họa sĩ
tài hoa mà không ai hay, một người
lính gan dạ không ai bì. Hắn đã
cứu cả đơn vị vì hắn
đã xác định tọa độ
chính xác còn hơn sĩ quan đề
lô. Tôi muốn theo hắn vì hắn
có nhiều kinh nghiệm hơn tôi, nhưng
hắn nói:
"Theo tao làm gì. Tao đã
quá mệt mỏi lắm rồi. Làm thanh
niên của cái xứ sở này
đã quá mệt rồi. Mày nghe gì
không. Mùi thơm của trầm đang
tỏa đâu đây. Người
ta nói là nếu mà gặp được
trầm thì sẽ gặp may. Phải. Hôm
nay tao đã gặp. Tao sẽ đến
đó.Tao sẽ tìm một hang động
mà ẩn cư. Thời này là
thời của ma quỉ là thời
của kẻ giết người. Xa lánh
là cách tốt nhất."
Tôi cầm tay nó. Bây
giờ nó trở nên một con
người khác. Nó đã tìm
một cõi nào đó để mà
đến trong cõi địa ngục. Rồi
nó vất súng, vất đạn, và
từ giã chúng tôi. Hình ảnh
cuối cùng mà tôi ghi nhớ là
cái lưng hơi gù, cái mũ rừng
lúp xúp và cả một mái tóc
dài như người tiền sử.
Chính lúc này, chúng
tôi mới hiểu thế nào là
tình đồng đội. Nó không
dễ gì cảm nhận nếu thật sự
ta không trải qua những giờ phút
nhục
nhằn gian khổ bên nhau. Ðừng
nói đến tình đồng đội
tình chiến hữu nếu ngài cứ
ngồi chiếu trên, xem lính là nô
lệ, chưa bao giờ biết thế nào
là nỗi mất mát, nỗi căm
hờn, thù hận, đau thương
khi một người bạn bỏ chúng
ta đi xa... Tình đồng đội đã
bắt những người lính thấp
nhất như Ðông, Tròn vẫn còn
theo tôi, trong khi họ có thể tự
lo liệu, hay bỏ đơn vị ra hàng
phe địch. Tôi muốn thật sự
như thiếu úy Phương. Dứt khoát.
Không cần thắc mắc. Không cần
bận tâm. Muốn làm thì làm.
Muốn đi thì đi. Hắn là một
con thú rừng nhưng cũng là một
nhà đạo hạnh. Một nhà nghệ
sĩ sống hết sức mình. Nhưng
tôi không can đảm. Tôi vẫn còn
cần sự nương tựa vào những
người lính thuộc cấp của
tôi.
Phương ơi, mày đi
đâu ở giữa trùng trùng
điệp núi rừng? Mùi trầm
hương đâu phải là một mùi
ân sủng. Việt Nam đâu có tội
tình gì để mà xa lánh. Mặt
trời dù sắp lặn nhưng ngày
mai thì mặt trời vẫn mọc mà.
Tôi vẫn tin là một ngày thù
hận sẽ không còn khi những người
trong cuộc hiểu rằng họ là nạn
nhân, bị lừa gạt, bị thổi
phòng. Con tim không phải chảy hoài
bằng giòng máu đen, máu bầm
của loài quỉ sứ. Con tim dù dễ
bị ru ngủ, nhưng một ngày nó cũng
sẽ thức dậy. Thằng lính phương
Bắc khi chửûi rủa chúng ta là
lũ ăn thịt người, giết
cả trẻ sơ sinh, không phải là
nó sáng tạo hay từ những
kinh nghiệm bản thân của nó, mà
trái lại nó bị những bài
thơ ghê khiếp sát nhân từ
những tay thi sĩ ngậm máu phun độc.
Nhưng bên cạnh vẫn là những
trang chữ dành cho cha mẹ vợ con
người yêu...đầy nhân bản.
Thôi thì từ giã
anh em. Thôi thì nhắm mắt mà đi.
Cần gì địa bàn để tìm
hướng. Về phương đông,
hay về phương Tây, thì cũng vậy.
Hai chân đã mỏi nhừ. Cổ
họng khô đắng. Thuốc lá cũng
hết. Ðông cố lục trong túi
quần, túi áo mới tìm được
bao thuốc bẹp dí. Thầy trò chia nhau
điếu thuốc quân tiếp vụ. Tròn
đi trước dẫn đường.
Có lẽ phải đi cả đêm
để ngày mai còn phải lẩn tránh
những đôi mắt phe địch.
Gai nhọn đan nhau, những mũi gai như
móc câu, móc vào da thịt Cả
rừng vang động tiếng chim và
tiếng kêu khỉ vượn. Nhớ
lại những lần nhảy toán xuống
rừng, đi tìm dấu địch,
dù nguy hiểm nhưng cũng an tâm, vì
mình biết chắc sau mình có trực
thăng tới bốc, có những
điểm hẹn để trở về.
Bây giờ thì trái lại, không
máy liên lạc, không trái khói
để làm dấu hiệu cho trực
thăng... Chỉ có những bước
giày thất thểu lo âu. Kẻ đi
trước nín thở. Kẻ đi
sau nín thở. Càng lúc rừng
càng đen tối hơn. Những tàn
cây cổ thụ che cả những vì
sao lấp lánh trên cao. Cả bọn dìu
dắt nhau mà đi. Nhắm mắt đi
bừa.
oOo
Ngày thứ ba chúng
tôi mới thoát khỏi khu rừng
già. Trước mặt chúng tôi
là những rẩy bắp và xa hơn
thấp thoáng những ngôi nhà
tranh và nhà sàn. Chúng tôi không
biết xóm Kinh hay một buông Thượng
hay là một mật khu của phe Bắc. Nhưng
dù sao, những rẩy bắp kia là
ân sủng sau mấy ngày đói khát
trong rừng. Chúng tôi bò vào.
Thì giữa lúc đó một bà
lão xuất hiện. Bà há hốc
mồm bên cạnh bó củi khô. Bà
có mặt lúc nào chúng tôi không
hề hay biết. Ðông nói với
tôi. Chết rồi ông thầy. Mình
bị phác giác rồi. Rồi nó
thì thào: Phải làm bà ta ngậm
miệng. Rồi nó nhào tới, chụp
lấy chiếc rựa từ bà lão.
Tôi ngăn lại, không cho. Tôi gằn
từng tiếng: "Ðừng. Tao cấm
mày đừng. Hãy trói bả
lại rồi nhét vải vào mồm bả."
Bà lão rên rỉ: Lạy các ông
tha mạng cho tôi. Tôi là dân vô
tội mà." Ðông chồm tới
giựt áo bà rồi xé. Hắn
nhét vải vào miệng bà ta. Bà
ú ớ, kêu oan. Rồi chúng tôi
dùng áo bà ta để làm dây,
trói hai tay bà lại. Sau đó chúng
tôi vào trong ruộng bắp và thi nhau
hái.
Lúc ấy là vào
khoảng 4 giờ chiều. Chúng tôi
lại tìm hướng khác mà đi.
Vừa đi vừa chạy. Trời
ơi, chúng tôi là dân trinh sát
nhưng lại không nhớ gì đến
bài học của thằng lính trinh sát.
Chúng tôi vì quá sợ nên
quên cả việc phi tang những dấu
chân còn in lại trên con đường
bùn đất nhão nhẹt do từ
trận mưa lớn đêm qua. Kết
quả là chỉ một ít lâu sau, chúng
tôi nghe vang rền tiếng chân người
rầm rập lẫn tiếng nói càng
lúc càng gần. Có lẽ là
du kích hay là bộ đội địa
phương vì tôi chỉ nghe giọng Nam Ngãi.
Tiếng nói càng lúc càng rõ,
như thể từ bốn phía. Tôi
biết là nhiều người lắm.
Và hình như họ rất quen thuộc với
địa thế khu vực. Tôi như kẻ
bị dồn vào cuối đường.
Hết rồi, đâu là nhà, đâu
là chỗ trở về, đi đâu
bây giờ. Tiếng hét hò dọa
dẩm càng lúc càng kinh động
của đám thợ săn người.
Rồi tiếng la rất gần:
"Ðầu thì sống,
chống thì chết."
Không hiểu sao, tôi phải
la lên, cả tiếng thằng Tròn nữa.
Rõ ràng tôi mất hết tự
chủ.
"Chúng tôi xin đầu
hàng quân cách mạng."
"Hãy nghe lệnh chúng tôi.
Bước ra chỗ bãi đất trống.
Hai tay giơ lên đầu !"
Chúng tôi làm theo.
Một tên bộ đội
nhìn thấy cái hoa mai đen thêu trên
cổ áo của tôi, la lên mừng
rỡ: Tên này là sĩ quan ngụy,
và nó chĩa mũi súng vào
màng tang tôi. Tôi nhắm mắt chờ
đợi. Tôi bình thản chờ
đợi. Hình như con người
trong nỗi tuyệt vọng quá sức ê
chề thì cõi lòng đâm tê
điếng, dững dưng. Nhưng rõ
ràng, một thằng lính khác đã
chụp lấy tay thằng cầm súng rồi
ngăn lại: "Ðồng chí đừng
bắn nó phí đạn. Hãy giao nó
cho nhân dân xữ."
Bây giờ nhớ
lại tôi càng tin ở luật nhân
quả. Tôi đã tha mạng bà lão
thì cũng có kẻ khác tha mạng
cho tôi. Và trong chốn sâu thẩm của
con tim, vẫn còn có một hơi ấm
của tình người. Có phải
vậy không ?
Sau đó họ giải chúng
tôi về nhà làng. Dân làng
gồm bà lão, con nít, cả đàn
bà bồng con đổ xô ra, nhìn
chúng tôi như những ác thú.
Có lẽ lần đầu tiên họ
mới thấy những người
lính Nam quân. Họ rủa thậm tệ chúng
tôi: Bọn ngụy ăn thịt người,
bọn ngụy uống máu người.
Vẫn là những lời rập khuôn
từ Nam ra Bắc, từ con nít đến
người lớn... Ai đã gây
cho họ những nỗi căm thù ghê
gớm như thế này. Ai đã
đầu độc cả tâm hồn trẻ
thơ trong trắng bằng những độc
tố ác nhơn ác đức như
thế này. Nhìn họ, những người
đàn bà chân đất, những
đứa con nít trần truồng mới
hiểu là cuộc đời của họ
cũng tăm tối chẳng khác cái
bóng tối của khu rừng già...
Nên thương họ hay ghét họ ?
Nên thương hay ghét
họ, dù họ ném đá vào
chúng tôi. Dù bà lão mà
chúng tôi đã tha mạng, là kẻ
hùng hổ hơn ai hết. Bà ta còn
nói thêm. "Chúng nó còn muốn
hiếp tao nữa. Chúng cởi cả
áo tao. Ðúng là quân trẻ nít
không tha, bà lão không từø."
Thật sự chúng tôi đã xé
áo bà để làm vải nhét
vào miệng bà. Thôi thì chấp
nhận. Cả người tôi bị bầm
dập bởi những đòn thù,
bởi những hòn đá liệng
tới. Miệng mũi tôi chảy máu.
Bên tôi là Tròn, Ðông. Mắt
chúng sưng vù. Ôi, Việt Nam ơi,
hãnh diện được làm người
Việt Nam của Rồng Tiên Lạc Việt.
Chỉ có Việt Nam mới mổ mật
mổ tim, moi gan, uống máu. Chỉ có
Việt Nam mới nhìn nhau bằng những
con mắt chó sói, cọp beo... Chỉ có
Việt Nam, mới tru tréo căm hờn,
mỗi thằng trẻ bị đè ra cho
một bản án tử hình khiếm
diện. Sao mà đến thế kỷ 20
này, giữa lúc loài người
đang nhìn lên cao, phía mặt trăng
mà khám phá rằng, chị Hằng
chỉ là huyền thoại, thì ở
nơi này, người ta chỉ thấy
máu và máu...
Bây giờ bóng đêm
đã rủ xuống. Những ngọn
đuốc đã được đốt
lên. Và tôi nghe tiếng radio phát
lớn từ ngôi nhà làng.
Những tin tức về một miền
Nam đang hấp hối. Các tỉnh và
thành phố đã lần lượt
bị thất thủ. Trong đêm, tiếng
nhạc, tiếng hát ăn mừng từ
chiếc loa bắt ở nhà làng,
vang dội. Quả thật vậy sao? Rõ ràng
thằng Ðông đang khóc. Cả mặt
bị nó bị bầm. Tội nghiệp, nó
là kẻ bị đánh đập nhiều
nhất trong bọn chúng tôi bởi
vì con mẹ già kia chỉ tay vào ngày
mặt nó rồi nói như hét: "Chính
thằng này đã xé áo tao.".
Nó bị hết báng súng dộng,
đến những cú đá, thoi,
đánh tới tấp. Thoạt đầu
nó còn đứng, hai tay che mặt,
sau đó, hai đầu gối quị xuống,
rồi máu ộc ra cửa miệng. Nhưng
nó vẫn nhất quyết không chịu
nhận tội: "Các ông giết tôi thì
tôi xin chịu, chứ tôi đâu
có hãm hiếp bà lão. Bà
đáng bà nội tôi mà..." Tôi
nhắm mắt lại, không dám nhìn.
Sau này, ở tù, tôi đã
nghe bao nhiêu lời tự kiểm từ
những sĩ quan, và chính cả tôi
nữa, để càng hiểu rằng,
thường những tấm lòng vĩ
đại cao cả đều ở từ
những phận đời thấp hèn.
Vua chúa lảnh tụ phải cần bầy
tôi trung thành, hy sinh nhưng chắc gì
vua chúa hay lảnh tụ có thủy chung
hay hy sinh cùng bầy tôi của các
ngài? Các ông đơn vị trưởng
dùng cấp bậc để tạo quyền
uy, khí phách, nhưng khi mất cấp bậc,
liệu họ có còn khí phách cao
ngạo bất khuất như xưa?
Trời ơi, từ
lâu tôi đã nhìn những
người lính như Ðông là
những kẻ thuộc cấp, sinh ra để
tuân lệnh. Vị trí của họ là
vị trí của một con tốt trong hàng
ngũ, trong đám đông. Lưng họ
gồng nặng ba lô gạo lương khô
và súng đạn. Nhưng bây giờ,
họ đã cho tôi nhìn rõ hơn
thế nữa. Ai hy sinh nhiều hơn họ,
ai chung thủy nhiều hơn họ, ai khí phách
nhiều hơn họ. Ðông ơi, chắc
mày đau lắm phải không. Chúng
đánh mày như vậy, báng súng
AK mà tộng vào ngực như vậy,
một tay lực sĩ quyền Anh hạng nặng
cũng phải thổ huyết, huống hồ
một kẻ nhỏ con như mày. Chắc mày
oán tao vì không để mày giết
bà lão. Tao biết đó là lỗi
của tao. Nhưng mày hãy hiểu con người
khác với con thú. Hắn có
lương tâm. Lương tâm không thể
giết một người vô tội. Nhất
là kẻ ấy là một bà già.
Chừng như hả hê
với những trận khảo cung, đám
bộ đội địa phương bỏ
đi, để lại hai thằng nhỏ chừng
13, 14 tuổi canh giữ chúng tôi. Trong
đêm triền sơn, tiếng loa phát
thanh từ đài Hà Nội nghe rõ
mồn một. Những bản nhạc, lời
ca ăn mừng tiếp tục không ngưng
nghỉ sau những tin chiến thắng dồn
dập. Trên sân rộng trước ngôi
nhà làng, dân làng tụ tập thắp
đèn, thắp đuốc, và người
ta hát hò liên hoan. Thỉnh thoảng là
những tràng đạn AK tiếp tục
bắn lên không trung. Những tia đạn
lửa xẹt đỏ ngang dọc giữa
màn đêm, như những tia pháo
bông.
Hình như đám bộ
đội đã quên chúng tôi.
Có lẽø họ đã quá say
sưa phấn khích ở cuộc chiến
thắng quá sức tưởng tượng
đang diễn ra từng phút một. Hay
cũng vì chúng tôi chỉ là những
tù binh tép riu. Hay cũng vì họ bắt
quá nhiều tù binh, không ai canh giữ.
Chỉ có chúng tôi, với những
quả tim tan nát. Chỉ có chúng tôi
nhìn lẫn nhau trong bóng tối. Những
trận đòn bây giờ mới
thật sự thấm vào tận xương
tủy. Răng buốt nhức vô cùng
tận. Có lẽ một chiếc răng bị
gãy cũng nên. Tôi lại khát.
Tôi kêu thằng canh, xin miếng nước.
Thằng bé nhìn bạn. Hai đứa
xầm xì gì đó, rồi một
đứa bỏ đi. Thằng còn
lại nói lớn: "Tội của các
ông mà còn xin được uống
nước à? Cho các ông uống
nước để rồi các ông
đi hãm hiếp bà lão, có phải
không. Lần này, chúng tôi cho các
ông ân huệ đó, các ông
nghe rõ không ?"
Ðông nhìn tôi, lắc
đầu,
tỏ ý bất mãn. Tôi thấy thẹn
với người lính của mình.
Trời ơi, cái đau của kẻ
thua cuộc, là cái tủi nhục. Hết
lớn rồi bây giờ đến
thằng thiếu niên mà khẩu súng
còn cao hơn người nó. Càng
nhục mình mới càng cảm thấy
mình quá hèn. Hèn. Mình không
thể hèn như vậy. Ðông ơi,
dù khát bỏng cổ họng, tao cũng
không thể hèn như vậy đâu.
oOo
Ngày hôm sau, chúng tôi
được giải đến một địa
điểm khác bằng xe Molotova. Xe chạy
trên con lộ năm nào chúng tôi
đã từng đi, qua đèo,
lên dốc, qua những rừng thưa,
hay xóm làng, thị trấn quen thuộc.
Dọc đường hàng hàng xe
cộ bị cháy, hay bị hỏng máy,
dân sự lẫn quân sự. Có
những đám khói vẫn còn
bốc lên nghi ngút. Những bánh
xe nằm vương vải trên đường.
Có chiếc nằm chênh vênh trên
bờ vực. Mùi thúi bốc lên
nồng nặc đến lợm miệng.
Thỉnh thoảng vài tên lính đội
nón cối đứng bên đường
nhìn theo đoàn xe, rồi rũ nhau chỉ
chỏ. Tôi đứng bên cạnh một
người chuẩn uý. Chẳng ai hỏi
han. Chẳng ai nói một lời. Ði
đâu. Không ai biết.
Ðến chiều chúng
tôi mới đến một trại binh
cũ. Tại đây đã có rất
nhiều người bị bắt, đủ
binh chủng, đủ thành phần. Có
điều là ít thấy sĩ quan. Dù
sao, tôi cũng cảm thấy lòng an tâm
hơn. Ít ra, tôi có chung những
người cùng một cảnh ngộ.
Ít ra, những tay súng canh giữ
ít lộ vẽ cuồng sát hơn đám
bộ đội và du kích địa phương.
Ít ra tôi cũng được một
bửa ăn sau suốt cả một tuần
không có một hạt cơm trong bao tử.
Nhưng niềm hy vọng kia chưa được
bao lâu thì cả trại được
lệnh tập họp. Cả một đoàn
xe lại vận chuyển tù binh đến
một địa điểm khác, như thể
một thung lủng. Xa xa trên đồi là
một đồn binh. Có lẽ nơi này
nguyên là một căn cứ của
lực lượng biên phòng. Sau đó
chúng tôi mỗi đứa được
phát một bộ đồ rằn ri, và
một khẩu M16 không đạn. Không ai
biết được tại sao. Hay là
phe thắng trận dàn cảnh để bắn
chúng tôi, sau đó đổ thừa
chúng tôi nổi dậy. Chuyện gì mà
kỳ cục như vậy. Những câu
hỏi và những câu hỏi.
Làm sao chúng tôi biết
được chúng tôi là những
diễn viên đóng về một đội
quân mà người ta gọi là
quân ngụy Sài Gòn, bạc nhược,
chưa đánh đã chạy, tả tơi,
mất tinh thần. Máy quay phim hướng
về phía tù binh, trong khi phe bên kia, bắn
ầm ầm, và xung phong vang dội...Tôi
được chọn làm một đại
đội trưởng. Tôi phải đóng
làm sao để khi ra lệnh, là lính
tôi không tuân hành, và vất
súng khi quân Bắc ào đến
xung phong, rồi đầu hàng...
Trần Hoài Thư
(trich Ðêm Rừng Tràm
mới xuất bản 7/2002)
|