Tạp Chí Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt Nam Tự Do Dân Chủ
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada
Phone+Fax: (604) 875-9022 - Sau 6PM (604) 879-1179
Email: nsvietnam@yahoo.com

Cập nhật hóa hàng ngày
Chủ Biên: Hải Triều
Ðại diện nhóm Úc châu: Trương Minh Hoàng - Ðại diện nhóm Âu châu: Trần Hữu Phúc - Ðại diện nhóm Hoa Kỳ: Dương Thái Sơn - Ðại diện nhóm nội địa: Hồng Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những người góp phần đấu tranh cho một Việt Nam tự do, thực hiện bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành trên toàn thế giới.
Các Số Báo Cũ
Hà Thúc Sinh
Hoàng Ngọc Liên
Kathy Trần
Lâm Chương
Lâm Lễ Trinh
Nguyễn Thanh Hoàng
Phạm Văn Nhàn
Phan Nhật Nam
Phó Thường Dân
Sổ Tay Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Trần Viết Ðại Hưng
Tài Liệu - Góp Nhặt
Nối Kết

Bài  Mới  Nhất
CON VỊT



Tác giả Trần Gia Phụng.
In lần thứ 2 - 28CAN$/22US$


Chiến sử QLVNCH của Phạm Phong Dinh - Tái bản lần 2.
35CAN$/25US$ *


Tác giả Bùi Ngọc Tấn.
25CAN$/20US$
(Ở Mỹ bán 35US$).

* Giá bán kể cả cước phí.
Liên lạc: NS Việt-Nam.




Các tập thơ chiến đấu của 
Lê Khắc Anh Hào 
(và Ý Yên, Trần Thúc Vũ).

Nguyệt-San Việt-Nam Số 61
(Tháng 7&8/2002)

Còn đâu những huyền thoại bịp trong cuộc chiến Ðông Dương 1955 – 1975 
khi cộng sản Việt Nam hiện hình buôn dân bán nước
Hồ Ðinh

(Nguyệt San Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết đặc biệt của Hồ Ðinh nhân ngày quân lực 19/6/2002. Hồ Ðinh là một trong những cây bút cột trụ của tạp chí Lửa Việt và Nguyệt San Việt Nam từ hơn hai thập niên qua... và là một trong vài nhà văn quân đội viết và chiến đấu bền bĩ nhất hiện nay tại hải ngoại.../HT)

Ngày 1 tháng 5 năm 1975, VNCH coi như hoàn toàn sụp đổ sau khi Dương văn Minh ra lệnh buông súng đầu hàng, nhưng có điều kỳ quái là Lê Duẩn, vua của đất Bắc lúc đó, lại lên đài tuyên bố " không có kẻ thắng, người bại ", chứ không phải do ông chủ tịch Mặt trận GPMN Nguyễn hữu Thọ,nhân vật mà báo chí trong và ngoài nước luôn nhắc nhở từ tháng 12/1960 cho tới 10 giờ trứa ngày 30-4-1975. Ðây là sự thật chứ không phải cảnh giả ngộ, vì tại Sài Gòn hôm đó, hình bóng của chính phủ lâm thời miền Nam coi như cũng chết tiệt theo chính phủ VNCH, kể luôn cái hai bên nằm trong trại David, Tân sơn Nhất. Hình ảnh còn thấy đưọc sự sống của mặt trận là mấy lá cờ nửa xanh, nửa đỏ giữa có ngôi sao vàng,được treo lủng lẳng theo đoàn tăng, pháo Liên Xô,nhưng toàn do bộ đội Bắc bộ phủ lái. Riêng Mặt Trận gì gì đó, nghe đồn đã về thủ đô nhưng rồi ai tớ, ai thầy, đã quá rõ ràng trên hàng ghế danh dự nơi khán đài do Phạm Hùng, Trần văn Trà chủ tọa. Màn hài kịch dài mấy chục năm chấm dứt. Người nam kẻ bắc từ đó lại ôm nhau chìm trong vũng bùn ô uế của xã nghĩ a thiên đàng. Lừng lẫy nhất trong mặt trận hửu danh vô thực, có Nguyễn thị Bình, một trong những người của bốn phe đã đặt bút ký vào trong manh giấy lộn cũng là tờ đoạn mãi VNCH cho CS của cặp Nixon-Kissiger, ngày 27-1-1973, sau này thành đám lục bình nổi trôi theo con nước ròng, nước lớn trên các kênh rạch, sông Hậu, sông Tiền, Y thị và đồng bọn trong cái mặt trận ma, bị vứt vào quên lãng như tờ giấy lộn trên với cái thân phận bù nhìn, phất phơ, ngồi trơ mắt ếch. Thế nhưng, chứng nào tật nấy, còn lên báo năm 1995 nói ngọng, vẽ rắn thêm chân, chỉ hươu nói ngựa vào cái thời điểm, mà khắp VN và thế giới, ai cũng đã biết hết sự thật não nùng . Ðời mà đến thế thì thôi , hoặc im miệng ngồi lãnh tem phiếu dưỡng già, hay khá khá hơn như Nguyễn Hộ, Nguyễn văn Trấn..ít ra còn dám viết lại những lỗi lầm của mình trót dại theo giặc phản dân hại nước. Không làm được hai điều trên mà còn tệ hơn ,lấy uy danh của ông ngoại mình, vốn là bậc anh hùng dân tộc, đem ra bêu xấu khắp nước , vì sự lố lăng , lừa bịp và phản bội của chính mình. 

Hai mươi bảy năm qua rồi, ngày nay các huyền thoại BỊP một thời làm mù mắt cả nước cũng theo chuyện xưa, tích củ, chuyện bán nước buôn dân, tàn theo mùa chinh chiến, bởi vì tầm quan trọng lịch sử của một cuộc chiến, hầu như do các huyền thoại liên hệ quyết định nhưng huyền thoại cũng là con dao hai lưỡi, để kết luận sự thành bại của cuộc chiến. Những gì có hôm nay trên đất Việt, mới thực sự đánh giá ai là giặc là nguỵ và ai mới xứng đáng đi vào lịch sử. 

(Nguyễn Thị Bình khoe trên báo KTNN số 188 ngày 10-10-95, về chuyện bịp trong hiệp định NBVN năm 1973).

1- BẮC VIỆT XÂM LĂNG MIỀN NAM

Ngày nay qua những khai quật của lịch sử trong núi kho tàng dữ liệu, từ Pháp, Mỹ cho tới Tàu Cộng, từ Việt cộng miền Nam cho tới Cộng gộc đất Bắc..và VNCH, cho thấy những chiến thắng của Lê Duẩn, Võ nguyên Giáp, Văn tiến Dũng..tại miền nam trong suốt 20 năm đối mặt với QLVNCH, thật ra không có gì là vĩ đại như đảng tuyên truyền. Những trận Ấp Bắc, Ðầm Dơi, Hiệp Hoà, Suối Ðá,An Lão, Bình Giã..cho tới cuộc đại chiến hồi Tết Mậu Thân, những trận long trời lở đất trên đất Cao Miên, Hạ Lào, rồi Vũng Rô, Ba Gia, Phụng Dư, Ðồng Xoài, Ðức Cơ, Bố Ðức, Cồn Tiên, Làng Vây, Cô Tô, Trí Pháp..và mùa hè đỏ lửa 1972 cho đến hồi gần kết cuộc tại PhanThiết, Xuân Lộc, Long An, Sài Gòn..mọi nơi, khắp chốn, từ trong núi cho tới thị thành, lúc nào cũng đánh lén, hồi nào cũng biển người, khi nào cũng có hỏa lực hùng hậu đưọc viện trợ hay mua chịu trả sau từ Nga, Tàu..nhưng đâu có lần nào thây không phơi đầy bãi, đánh nhanh, rút vội quay về rừng ? Cho tới khi thảm kịch VN chính thức thành hình ngày 27-1-1973, qua cái gọi là hiệp định chấm dứt chiến tranh, sau 4 năm 9 tháng Mỹ và khối CS quốc tế cò kè bán mua cái thân xác nhược tiểu VNCH. Khi người Mỹ rút bỏ VN bắt đầu từ thập niên 70 qua chương trình VN hoá chiến tranh, không có Mỹ chiến đấu bên cạnh không ngờ những năm 1970-1973, QLVNCH qua những Sĩ quan trung cấp, trong mọi quân binh chủng từ Nhảy Dù, TQLC, LLÐB, BÐQ, Thiết Kỵ, cho tới các Sư đoàn bộ binh 1,2,3,5,7,9, 18,21,22,23,25 kể cả các đơn vị Ðịa phương quân , được các nhà quân sử xếp loại Lính thiện chiến nhất thế giới. Thật vậy, có là lính để chứng kiến lính VNCH trong các mặt trận long trời lở đất tại An Lộc, Kon Tum, Quãng Trị, Bình Ðịnh, Thưọng Ðức, Sa Huỳnh, Tống Lê Chân, Xuân Lộc và những ngày hấp hối tại Tây Ninh, Củ Chi, Long An, Biên Hoà, Sài Gòn..mới biết sự chiến đấu phi thường của những người lính lãnh một năm lương, không bằng một trận cười của các me tây, me Mỹ và các nhà trí thức khã kính của miền Nam, số ít ăn cơm ta thờ ma hồ hay như thị Bình khoe là theo VC từ lúc còn ở trong đền thờ ông ngoại là Phan chu Trinh tại Ða Kao, Sài Gòn. Hiệp định Paris 1973 là vết dao trí mạng của Kissinger đâm đúng ngay hồng tim của VNCH, khi Mỹ và CS quốc tế hiệp đồng, hợp thức hoá sự có mặt của bộ đội Bắc Việt trên lãnh thổ miền Nam, cắt và ngưng viện trợ cho QLVNCH như đã từng ký hưá để tháo chạy trong danh dự ngay cả trên nóc nhà, Nhưng trên hết khi Mỹ dùng viện trợ bắt ép VNCH ký nhận bản hiệp ước vô lý bất nhẩn 1973, cũng là lúc quân dân miền Nam khởi đầu sự tan rã vì bất bình trước sự kiện miền Nam đang thắng lớn, bỗng dưng đầu hàng cái mặt trận MA qua chấp nhận sự hiện diện của chính phủ LTMN Ma và quân đội giải phóng MA qua người Bắc thật. Thêm vào đó là bọn hàng binh phản chiến, bọn trí thức thời thượng khôn nhà dại chợ..tất cả hiệp đồng đâm sau lưng người chiến sĩ, thì bảo làm sao lính không chết tới bị thương ? 

Về cái huyền thoại chống Pháp, chống Nhật, chống Mỹ cứu nước, thì cũng chẳng có gì vĩ đại như đảng ra rã tuyện truyền mút mùa nước nổi, vì chống Pháp là công của toàn dân có cả người anh vĩ đại phương bắc, Nhật thì đâu có đánh trận nào mà tự ý họ giãi giáp và rút về nước sau khi đầu hàng Ðồng Minh vô điều kiện, Riêng thắng Mỹ thì lại càng phải xét lai, vì với lực lưọng CSVN lúc đó, chỉ mới đưọc xếp loại ba trên thế giới, thắng hay bại đều do quân viện Nga-Hoa, hậu phương trên đất Bắc sau mấy chục năm chiến tranh triền miên khốc liệt, coi như sắp cạn kiệt kể cả người, vậy lấy gì để thắng Mỹ là một nước giàu mạnh trên thế giới, đúng nghĩa vật chất lẫn quân sự. 

Tóm lại người Mỹ chỉ vì theo đuổi chính sách tự trói hay đúng ra theo đuổi một giải pháp chính trị cho Ðông Dương hơn là dùng bom đạn gây đổ vở chết chóc như CS chủ trương , quyền lực trên đầu súng, trong suốt mấy chục năm qua. Sự thực ngày nay về sức mạnh Mỹ qua cuộc chiến vùng Vịnh năm 1991,Nam Tư và mới đây tại A Phú Hản, coi Nga Tàu kể cả Pháp chuyên rình ăn ké như pha, từ đó đủ chứng minh rằng với 500.000 quân Mỹ có hỏa lực hùng hậu nhất thế giới, hậu phương tiếp liệu vô tận, giàu mạnh và tài giỏi như quan thầy Nga còn tan hàng, nếu Mỹ thật tâm đánh giặc thì Bắc Việt sức nào mà đở nổi và chống được bao lâu? Ngay cả trên bàn cờ chính trị, CS đã thắng gì, dù có gây được vài ba phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ, nhưng đây là sản phẩm của bọn đạo tặc truyền thông da trắng, chứ không phải công của VC. Sau này mới biết được, người Mỹ đã dự liệu trước sự vi phạm trắng trợn hiệp định 1973 và bản tuyên cáo của La Cell St. Cloud vào tháng 6/1973 của Bắc Việt, để có lý do quốc tế hủy bỏ lời hứa viện trợ tái thiết cả chục tỷ đô la, phong tỏa kinh tế và cấm vận VC dài hạn cho tới đầu năm 1990 mới hủy bỏ.

Tóm lại cuộc chiến Ðông Dường lần thứ ba 1955-1975, dù cho có gọi bằng thứ danh từ gì chăng nửa như chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh giải phóng dân tộc, nội chiến Nam-Bắc..thì tựu trung cũng là Bắc Việt xâm lăng VNCH. Cái đa dạng và phức tạp từ trong định nghĩa ra tới thực chất, đều thoát thai qua lớp hỏa mù tuyên truyền và đống núi tài liệu tả bánh lù , đối chọi tréo cẳng ngổng làm cho lớp trẻ trong và ngoài nước, cũng như những kẻ bàng quang không biết đâu mà mò. Từ đó suy diễn bậy bạ và trút hết mọi thua thiệt vào kẻ chiến bại VNCH, đáng ra phải đưọc vinh danh vì công trạng giữ gìn và bảo vệ nước Việt trước sự xâm lăng nhuộm đỏ của CS quốc tế. 

Bốn mươi lăm năm tìm đủ trăm phương ngàn kế, tận dụng hết tất cả thủ đoạn, xô lệnh sơn hà, gây cảnh máu sông, xương núi, để làm chủ cho được VN, cuối cùng giờ vinh quang, cũng là lúc những huyền thoại thay nhau òa vỡ trong biển lệ trùng trùng, ngay cái phút đối mặt, người miền Nam đã bẽ bàng trước cảnh bị gạt thâm canh, vì cái mặt trận MA chỉ là công cụ để bộ đội Hồ nhuộm đỏ đất Miền Nam nước Việt. 

Rồi thì đổi đời bi thiết ngay trên vùng đất mới vừa đưọc cách mạng giải phóng, các anh hùng rừng núi Trường Sơn, mật khu Hố Bò, trung kiên với đảng , ngày thứ nhất về thành đã võ vàng lột xác trước cảnh sang giàu của vùng bị tạm chiếm, mà đảng bảo là đói khổ lầm than. Sự bịp bợm của cấp lãnh đạo làm tan vở huyền thoại về ‘ đạo đức cách mạng’. Thêm một lần nửa người Việt cả nước nhận thực về tình công sản, chỉ đẹp khi chưa nắm chính quyền như trước năm 1954 ở miền Bắc và 1975 tại miền Nam.

Ðất nước xơ xác tiêu điều dưới sự lãnh đạo của tập đoàn đỉnh cao trí tuệ, dân đói mặc bây, chỉ lo triễn lãm tội ác Mỹ Nguỵ, xây kỳ đài khắp quê làng, phố chợ, in sách để quảng bá về vụ Mỹ Lai, Bến Tre nhưng không nói tới thảm cảnh chôn sống giết dân Tết Mậu Thân tại Huế, trên đại lộ kinh hoàng, đường số 7, Bình Ðịnh, An Lộc, phóng đại huyền thoại Củ Chi lại quên là Ðịa đạo đã bị san bằng từ năm nào, kể cả cái R cũng thành bình địa, khiến Nguyễn chí Thanh phải tan xương nát thịt dưới bom Mỹ năm 1967. Tóm lại tất cả đều đi ngưọc lại lời Lê Duẩn tuyên bố, làm giặc chỉ để có quyền cướp của, giết người, hủy diệt tôn giáo, đình, chùa, nhà thờ, coi trí thức miền nam tệ hơn cục phân như Mao đã phán, kể cảø số ít trí thức đã góp phần đem vinh quang cho đảng. Nắm súng trong tay,lại bá đạo, tàn độc nên khắp miền Nam không thấy cảnh bàn thờ ra đường, ký giả đi ăn mày, cha tố cáo tham nhủng hay trí thức khùng coi đời như bửa tiệc nhân sinh. Tất cả im re lặng ngắt, thấy cán bộ đầu ngỏ đã thưa ông cần gì. Sự co mình của những kẻ hung hăng nhất của ngày củ, khiến đảng càng kiêu căng phách lối, đốt hết sách vở miền Nam, bỏ tù hằng triệu quân công cán cảnh VNCH trước cảnh sa cơ, cày mộ tử sĩ , đuổi hằng trăm ngàn người Hoa ra khỏi nước để hốt vàng, chiếm nhà, đoạt xí nghiệp, tài sản... khiến cả nước ngáp, đói vì bo bo độn gạo mọt. Nay hối hận thì cũng muộn màng, trước giao khoán phần chống giặc cho lính, còn hạ nhục, đâm lén, phủ phàng, nay lính đã rã ngủ, còn ai để bảo vệ cho dân? Nhưng thê thảm hơn hết là chính sách trồng người, mà nạn nhân là các thế hệ thanh thiếu niên cả nước, bị nhét vào đầu những trang sử Việt viết bằng ý thức hệ duy vật Mác Xít cọng sản quốc tế, vứt bỏ nhiều anh hùng liệt nử của dân tộc Hồng Lạc, đem tên những cha căng chú kiết, tự phong là liệt sĩ, nữ lưu gì gì đó trám đầy, cùng với những bịa đật tuyên truyền, làm hư hỏng cả một thế hệ thanh niên ngày nay. Cũng may, ngày tàn của đảng tới sớm, nên sự thật đã tẩy sạch hết mọi bẩn dơ, kỳ quặc trong số lớn lớp người trên. Hởi ôi, chỉ có 55 ngày đêm đại bại, mà VN phải chịu sống trong cơn ác mộng của xã nghĩa thiên đưòng, chẳng biết bao giờ mới ngóc đầu lên như nhân loại, để thở hít không khí trong lành của xã hội người.

2- CÒN ÐÂU NHỮNG HUYỀN THOẠI BỊP

TẤT CẢ ÐỀU LÀ CỦA ÐẢNG TA ÐÓ : 

Trong Ðại thắng mùa xuân, Văn tiến Dũng đã nói một cách huỵt toẹt là nhiều người có liên hệ tới cuộc chiến VN, vào những giờ phút cuối cùng từ tổng thống Pháp Giscard d’Estaing, Ðại sứ Pháp tại VNCH Mérillon, Ðại sứ Mỹ Martin, cho tới Dương văn Minh cùng với nhóm thân cộng Chân Tín, Lý quý Chung, Dương văn Ba, Châu tâm Luân..đều bị cộng sản gạt một cách cay cú về chuyện hòa đàm. Nhưng chính cái xảo trá này, đã khiến cho cộng sản sau ngày 30-4-1975, phải trả một giá đích đáng, là không còn ai trong loài người TIN. Câu dồng dao "nói như vẹm nói" đã phát xuất từ đó.

Trong lúc Dương văn Minh, Nguyễn văn Huyền tin tưởng ngày mai trời lại sáng, ra lệnh cho tất cả quân binh chủng/QLVNCH còn đang chiến đấu khắp mặt trận, ráng thêm một chút thôi, ngày mai 30-4-1975, là có hòa bình, thì theo lời Trần văn Trà viết trong KTNN số 34 năm 1990, lúc 24 giờ ngày 29-4-1975, được Lê Duẩn chọn làm giờ G cho 5 quân đoàn Bắc Việt, từ 5 hướng tổng tấn công vào Sài Gòn. Ðây cũng là thời gian để cán bộ nằm vùng lộ mặt, xách động dân chúng nổi dậy diệt chính quyền. Lúc này Mỹ cũng đã kết thúc cuộc di tản theo kế hoạch Frequent Wind và mờ sáng ngày 30-4-1975, đại sứ cũng bay tới soái hạm Blue Ridge của hạm đội 7, sau đó là toán TQLC, kết thúc sự hiện diện của người Mỹ tại VN từ 1954

Thế là giấc mộng nhuộm đỏ miền nam cưu mang từ năm 1959 đã toại nguyện, từ đây các cấp cộng sản tự phong cho mình chức trời, khinh thường chẳng những bọn trí thức da trắng, mà cả da vàng mũi toẹt, cùng quốc dân VN. Cả đảng từ lớn tới nhỏ, từ Bắc bộ phủ quyền uy sông núi, cho tới đám cò mồi trong mặt trận MA, kể luôn sư đoàn 304 quàng khăn đỏ, mới lập đêm 29-4-1975, cũng phun châu nhả ngọc qua hàng ngàn câu chuyện cổ tích chỉ có trong đầu những con người mất nhân tính, kể lại, vẽ vời, gây ấn tượng và trên hết dùng súng bắt người đối diện TIN là gà có bốn chân. Nhưng phải nói là nhờ chính miệng các con bài trong chiếu, tự lật con bài tẩy của mình trước khán thính giả, người miền Nam mới chịu tin đó là sự thật . Thế là thêm một huyền thoại của đảng bị vùi dập phũ phàng trong ngàn muôn lời nguyền rủa và sự khinh bỉ tận tuyệt dù trước mặt vẫn phải đối diện với kẻ thù

* TRẦN VĂN DANH KỂ CHUYỆN PHONG THẦN :

Từ sau hiệp định ngưng bắn Ba Lê được thi hành năm 1973, Trần văn Danh, chỉ huy trưởng quân báo Bắc Việt, kiêm phó tham mưu trưởng Miền, coi về tình báo chiến lược, đặc công và biệt động, được Bắc bộ phủ cài đặc trong phái đoàn bốn bên, công khai ngồi chình ình nơi phòng có gắn máy lạnh tại trại David, Tân Sơn Nhất, Sài Gòn. Nhờ đặc quyền, đặc sũng này mà Danh đã thu nhập được gần như tất cả bí mật trong ngoài của VNCH và theo đó mà binh một ván bài bịp thần sầu qủy khóc, đưa Minh lớn vào bẩy rập quyền lực ảo tưởng để cuối cùng bị mang một tội danh thiên cổ. Ngay từ khi mặt trận MA được lên khuôn, Danh theo lệnh vào Nam từ tháng 12/1960 bằng đưòng Trường Sơn, hợp tác với Mười Cúc Nguyễn văn Linh đang nằm vùng tại đây. Rồi Ban quân sự Miền của Bắc Việt đưọc thành lập do Trần văn Quang chỉ huy, Danh phụ trách tình báo, đặc công. Theo Danh thú nhận, thời gian từ 1955-1963, hầu hết các cơ sở nằm vùng của cộng sản tại miền Nam bị tiêu diệt và thất bại nặng nề. Số lớn còn sống hoặc ra chiêu hồi hay bị bắt cầm tù. Nhân dịp này, miền Bắc đã tân tạo cơ quan, đem cán bộ cộng gộc vào làm tình báo và bọn này đã nằm vùng khắp các cơ quan đầu nảo từ Tòa đại sứ Mỹ cho tới dinh Ðộc Lập, bộ, nha, sở.. Theo Danh, trước khi tổng tấn công miền Nam năm 1975, Lê Duẩn chơi trước ván cờ thấu cáy bằng cách đánh Phước Long và các vùng lân cận do Danh (Ba Trần), Năm Thạch (Hoàng Cầm) và Năm Ngà (Nguyễn minh Châu) chỉ huy. Chiến dịch Phước Long để Hà Nội phát hiện một cách chắc chắn là Mỹ đã thật sự phủi tay, không can thiệp vào miền Nam, vì vậy Trung ương đảng mới quyết định công khai xé bỏ hiệp ưóc, đánh chiếm VNCH.

Giữa lúc trong dinh Ðộc Lập mê mãi chuyện thay ngựa, đổi vua để được VC chấm cho hòa hợp, hòa giải trong chính quyền liên hiệp cuội, thì Danh cho biết ngay ngày 24-4-1975, quân ủy miền Bắc đã ra lệnh cưỡng chiếm Sài Gòn., do Văn tiến Dũng, Phạm Hùng chỉ huy đầu nảo cùng với Trần văn Trà, Lê trọng Tấn, Lê Ðức Anh, Ðinh Ðức Thiện coi các lộ quân. Danh lo tình báo, Mười Cúc phụ trách sư đòan 304 nằm vùng và Võ văn Kiệt chuẩn bị ngựa xe, trà nước và người phe ta, chầu đón giặc bắc vào thành. Danh được Phạm Hùng phong tướng ngay đêm miền nam sụp đổ. 

* ÐỒNG SĨ NGUYÊN KHOE BÁT QUÁI ÐỒ :

Ðọc trường thiên ký sự "Ðưòng đi không đền" của Xuân Vũ và dăm lần gót lính lội rừng, mới ý vị được sự khổ cực cùng tận của chiến tranh. Trường Sơn trong suốt cuộc chiến là mồ chôn hằng vạn tử sỉ của cả hai phía. Những địa danh như Ðồi không tên, Dốc pháo cụt, sông A Vương, Lũng Giằng, Khe Sanh, Dakto, A Shau,Ia-Drang, Pleime, Ðức Cơ.. ra tới tận miền Bắc, càng lúc trở nên khốc liệt khi chính thức là con đường chiến lược tải người và quân dụng vào xâm lăng miền Nam.

Tháng 11-1997, Võ nguyên Giáp nhắc lại đường Trường Sơn 559 do Ðinh đức Thiện và Ðồng sĩ Nguyên chỉ huy, nối Bắc bộ phủ đến tận các chiến trường Nam "ruột thịt", có kèm theo ống dẫn xăng dầu, dùng cho cơ giới và đoàn vận tải xuyên sơn. Theo Nguyên, bắt đầu chỉ huy binh đoàn 559 từ tháng 12-1966 với 750 xe vận tải, bốn binh trạm có nhiệm vụ chuyển tải người, quân dụng vào Nam. Một phần đường mòn chạy trên đất Lào và Kampuchia mà Hà Nội bảo là họ cho phép. Ðường chính thức ra đời vào ngày 19-5-1959 do công lao phác họa của Võ Bẩm, trải qua ba giai đoạn đường bộ, gùi thồ và xa lộ đất từ năm 1964 bằng xe cộ. Từ năm 1971,đường được mở rộng đồng thời với tuyến biển 759 nhưng hoạt động kém hiệu quả vì lực lưọng Hải quân/QLVNCH quá hùng hậu. Binh đoàn 559 có quân số trên 120.000 người, gồm 10.000 thanh niên xung phong, 1 sư đoàn cao xạ phòng không tăng phái và tám sư đoàn chiến đấu vận tải. Sau ngày ký hiệp định 1973, Hà Nội bỏ binh trạm và đưa quân thẳng vào Nam một cách công khai mỗi lần từ sư đoàn lên tới quân đoàn, kể cả cơ giới, pháo, tăng chỉ mất 12 ngày, thay vì 4 tháng như trước. Hai sư doàn quân xa dọc ngang xuôi ngược hết đông qua tây Trường Sơn , trước sự bất lực của VNCH vì không có hỏa lực để bắn hạ, còn Mỹ thì phủi tay khi ôm hết tù binh và cốt lính về nước. Tóm lại trong suốt cuộc chiến, Trường Sơn là bãi chiến trường đẳm máu nhất từ năm 1965 trở về sau. Nhưng hy sinh máu xương để được gì cho đất nước, hay chỉ là sự tưởng tiếc của những kẻ mắn may sống sót, những cô gái Trường Sơn mõi ngóng các chàng lính của cả hai bên, cho tới ngày tuổi xuân tháp cánh mà bóng ai vẫn biền biệt theo cái huyền thoại Trường Sơn đã chết héo trong tâm khảm của đồng bào sơn cước bị cướp bốc, khinh rẻ từ lúc có hòa bình. 

* CỦ CHI ÐÃ NÁT TỰ LÂU RỒI : 

Mấy lúc gần đây thấy đảng quảng cáo rầm rộ về cái địa đạo Củ Chi dài tới 250 km, mà bẽ bàng. Dù sao nguòi viết cũng đã ăn ngủ với Củ Chi hơn năm, khi Trung Ðoàn 43 biệt lập tăng phái hành quân cho tỉnh Hậu Nghĩa, mà tiểu đoàn 1/43 lại đóng thường xuyên ở thành đồng vách cát, gần như không sót một chỗ nào. Tóm lại Củ Chi mười lăm xã Phú Mỹ Hưng, An Phú, An Nhơn Tây, Nhuận Ðức, Trung Lập, Phú Hòa Ðông, Tân Thạnh Ðông, Trung An, Phước Vĩnh Ninh, Phước Thạnh, Phước Hiệp, Thái Mỹ, Tân Phú Trung và Tân Thông Hội, lính 43 không bỏ sót một chốn nào, nhưng đâu thấy địa đạo. Củ Chi nằm sát nách Sài Gòn, trên lãnh thổ có rất nhiều đường giao thông ngang dọc như quốc lộ 1, tỉnh lộ 15 chạy cặp sông Sài Gòn, tỉnh lộ 7A và 8A nối liền Bầu Trai, tỉnh lỵ Hậu Nghiã, qua Củ Chi, thông với Thủ Dầu Một. Suốt cuộc chiến, Củ Chi là giao điểm của tất cả hỏa lực của VNCH và Hoa Kỳ nhắm vào từ Sư doàn 25 HK, tới SD5,25 VNCH..vậy làm sao mà Củ Chi có thể trở thành địa đạo dài tới 250 km? Ðịa đạo Củ Chi như lời giải thích của các bô lảo trong vùng, xuất hiện trong thời gian khi chính phủ VNCH tiếp thu từ năm 1955, do các cựu kháng chiến Việt Minh, không đi tập kết mà cũng chẳng về tề, đào để phòng thân, cho nên xã nào cũng có. Sau đó tình hình khả quan, số lớn ra hợp tác với chính quyền hoặc trở thành người dân thường nên hầm thành hoang phế. Từ năm 1959 về sau, Hà Nội lại gây chiến, lập mặt trận ma đóng đô trong địa bàn quanh quẩn Tây Ninh, Hậu Nghĩa sát Củ Chi. Thế là du kích tìm các hầm hố, địa đạo củ moi dất để làm chổ trốn khi bị săn đuổi. Vì Củ Chi mưa nhiều, đất sốt, nên hầm hố sau một muà mưa rừng là xập nếu không tu bổ, trong hầm là hang ổ của các loại rắn, bò cạp, rít, chuột.. nên không mấy ai thích vào, trừ phi giây phút tử thần réo gọi. Số du kích, cán bộ bị rắn rít, bò cạp hạ sát, cũng không thua số thương vong bom đạn là mấy. Ðó là mặt thật của địa đạo 250 km trong tưởng tượng!

Ðịa đạo Củ Chi qua cuộc chiến thường được nhắc tới bằng các tên làng xóm quanh vùng như Hố Bò, Bến Ðình, Bến Dưọc..một vùng đồn điền cao su, giữa các mật khu nổi tiếng như Bời Lời, Trảng Bàng, Dương minh Châu, Tam giác Sắt. Mật khu Hố Bò, Củ Chi được Hà Nội gọi là Phân khu Sài Gòn - Chợ Lớn giao cho Mười Cúc và Võ văn Kiệt cai quản, có Trung đoàn 1012 ( Thủ đô) và 2 Tiểu đoàn Quyết Thắng 1,2 nhưng gần như chết hết qua nhiều lần đụng độ triền miên với Hoa Kỳ và SD25/VNCH. Từ sau Tết Mậu Thân 1968, quân số các đơn vị trên được bổ sung từ miền Bắc vào. Củ Chi tê liệt từ khi SD 25 Mỹ vào đóng tại Ðồng Dù, sau đó là SD 101 KVHK, thường dùng chiến dịch trực thăng bay vào tận ổ, nên sau này cán gộc cở Cúc, Kiệt thường ở dưới hầm cho chắc mạng. 

* CHIẾN DỊCH ROM-PLOW ỦI XẬP ÐỊA ÐẠO CỦ CHI :

Gồm 12 chiếc xe ủi đất loại lớn, đưọc tướng Wayan, có vấn trưởng của Ðại Tướng Ðổ cao Trí, tư lệnh QÐ3 lúc đó, biệt phái cho TK/Hậu Nghĩa. Chiến dịch ủi quang khu Hố Bò, Củ Chi làm Hà Nội điên tiết . Ðể bảo đảm doàn xe cơ giới trong lúc khai quang, một thiết đoàn gồm M48 và M113 của Hoa Kỳ yểm trợ, bảo vệ an ninh, xe ủi được bọc bằng lưới chông B40 và bao cát, nên đã hoàn thành nhanh chóng công tác sau 15 ngày làm việc, địa đạo Củ Chi đã biến thành một vùng đất rộng thoáng quang, hầm xập người cũng biến mất. Hết Hố Bò tới Bời Lời, sau đó là đường Trảng Mít, Dầu Tiếng cuối cùng tới các căn cứ lõm của du kích ấp xã trong các quận Củ Chi, Trảng Bàng, Ðức Hòa, Ðức Huệ..Tình hình an ninh đưọc vãn hồi, huyền thoại địa đạo Củ Chi chỉ còn trong các sách giáo khoa và tài liệu tuyên truyền của đảng mà thôi.

Tóm lại địa đạo Củ Chi, Hố Bò, Bời Lòi đã bị đoàn cơ giới HoaKỳ hủy diệt năm 1970 như bình địa. Hầu hết cán bộ cán binh vưọt trốn qua đất Miên, vậy sau ngày 30-4-1975, thành đồng Củ Chi ở đâu mà trình diễn? Vậy mà vẫn có người tin, điều này làm cho thế giới phải nể sợ sự nói láo không ngọng của người CSVN, nhất là trong giai đoạn sự thật ai cũng biết hết.

Năm nay , người Việt trong và ngoài nước bừng lên niềm căm phẩn và tủi nhục khi phát giác thêm sự kiện Bắc bộ Phủ vì quyền lực cá nhân mà bán, nhượng giang san tổ quốc cho kẻ thù Tàu Cộng. Có diều nực cười trong nước, ngoài một số đếm trên đầu ngón tay chỉ mặt bọn phản quốc, các trí thức đương thời hầu hết đều im re, có một ông Bùi Duy Tân nào đó , lên báo thế giới mới hỏi ai là tác giả bài thơ ‘Nam quốc sơn hà’ thế thôi. Chuyện mới khơi lại chuyệc cũ mấy chục năm về trước, trong lúc Quảng Trị bị Hà Nội xua quân qua sông Bến Hải cuỡng chiếm, cùng lúc cả nước đắm chìm trong bom đạn ngoại xâm từ An Lộ, Bình Ðịnh lên tới Kon Tum, người dân chiến nạn và lính chết như rạ, thì tại Sài Gòn, thay vì cùng quyết lòng giết giặc, lại biểu tình, xuống đường.. rồi ngày 10-10-1974, nước đang trong cơn lửa loạn, Mỹ cúp viện trợ, VC từ Bắc vào Nam như sóng vở bờ , chuẩn bị cướp nưóc, thì lại biểu tình.. đi ăn mày. Ðây chắc là điềm báo trước, nên sau ngày 30-4-1975 cả nước gần như đi ăn mày trước sự cướp của, giựt nhà của kẻ thắng trận. 

Nhớ ngày Quân lực 19-6-2002
Hồ Ðinh


Trang bìa 
Ðầu trang