Còn
đâu những huyền thoại bịp
trong cuộc chiến Ðông Dương 1955
– 1975
khi cộng
sản Việt Nam hiện hình buôn dân
bán nước
Hồ Ðinh
(Nguyệt
San Việt Nam trân trọng giới thiệu
bài viết đặc biệt của Hồ
Ðinh nhân ngày quân lực 19/6/2002.
Hồ Ðinh là một trong những cây
bút cột trụ của tạp chí Lửa
Việt và Nguyệt San Việt Nam từ hơn
hai thập niên qua... và là một trong
vài nhà văn quân đội viết
và chiến đấu bền bĩ nhất
hiện nay tại hải ngoại.../HT)
Ngày 1 tháng 5 năm 1975,
VNCH coi như hoàn toàn sụp đổ
sau khi Dương văn Minh ra lệnh buông súng
đầu hàng, nhưng có điều
kỳ quái là Lê Duẩn, vua của
đất Bắc lúc đó, lại
lên đài tuyên bố " không có
kẻ thắng, người bại ", chứ
không phải do ông chủ tịch Mặt
trận GPMN Nguyễn hữu Thọ,nhân vật
mà báo chí trong và ngoài nước
luôn nhắc nhở từ tháng
12/1960 cho tới 10 giờ trứa ngày
30-4-1975. Ðây là sự thật chứ
không phải cảnh giả ngộ, vì tại
Sài Gòn hôm đó, hình bóng
của chính phủ lâm thời miền
Nam coi như cũng chết tiệt theo chính
phủ VNCH, kể luôn cái hai bên nằm
trong trại David, Tân sơn Nhất. Hình
ảnh còn thấy đưọc sự
sống của mặt trận là mấy lá
cờ nửa xanh, nửa đỏ
giữa có ngôi sao vàng,được
treo lủng lẳng theo đoàn tăng, pháo
Liên Xô,nhưng toàn do bộ đội
Bắc bộ phủ lái. Riêng Mặt Trận
gì gì đó, nghe đồn đã
về thủ đô nhưng rồi ai tớ,
ai thầy, đã quá rõ ràng
trên hàng ghế danh dự nơi khán
đài do Phạm Hùng, Trần văn
Trà chủ tọa. Màn hài kịch dài
mấy chục năm chấm dứt. Người
nam kẻ bắc từ đó lại ôm
nhau chìm trong vũng bùn ô uế của
xã nghĩ a thiên đàng. Lừng
lẫy nhất trong mặt trận hửu danh
vô thực, có Nguyễn thị Bình,
một trong những người của
bốn phe đã đặt bút ký
vào trong manh giấy lộn cũng là tờ
đoạn mãi VNCH cho CS của cặp Nixon-Kissiger,
ngày 27-1-1973, sau này thành đám
lục bình nổi trôi theo con nước
ròng, nước lớn trên các
kênh rạch, sông Hậu, sông Tiền,
Y thị và đồng bọn trong cái
mặt trận ma, bị vứt vào quên
lãng như tờ giấy lộn trên
với cái thân phận bù nhìn,
phất phơ, ngồi trơ mắt ếch.
Thế nhưng, chứng nào tật nấy,
còn lên báo năm 1995 nói ngọng,
vẽ rắn thêm chân, chỉ hươu
nói ngựa vào cái thời
điểm, mà khắp VN và thế giới,
ai cũng đã biết hết sự
thật não nùng . Ðời mà
đến thế thì thôi , hoặc im miệng
ngồi lãnh tem phiếu dưỡng già,
hay khá khá hơn như Nguyễn Hộ,
Nguyễn văn Trấn..ít ra còn dám
viết lại những lỗi lầm của
mình trót dại theo giặc phản dân
hại nước. Không làm được
hai điều trên mà còn tệ hơn
,lấy uy danh của ông ngoại mình, vốn
là bậc anh hùng dân tộc, đem
ra bêu xấu khắp nước , vì
sự lố lăng , lừa bịp và
phản bội của chính mình.
Hai mươi bảy năm qua
rồi, ngày nay các huyền thoại BỊP
một thời làm mù mắt cả
nước cũng theo chuyện xưa, tích
củ, chuyện bán nước buôn
dân, tàn theo mùa chinh chiến, bởi
vì tầm quan trọng lịch sử của
một cuộc chiến, hầu như do các
huyền thoại liên hệ quyết định
nhưng huyền thoại cũng là con dao hai
lưỡi, để kết luận sự
thành bại của cuộc chiến. Những
gì có hôm nay trên đất Việt,
mới thực sự đánh giá
ai là giặc là nguỵ và ai mới
xứng đáng đi vào lịch
sử.
(Nguyễn Thị Bình khoe trên
báo KTNN số 188 ngày 10-10-95, về chuyện
bịp trong hiệp định NBVN năm 1973).
1- BẮC VIỆT XÂM LĂNG
MIỀN NAM:
Ngày nay qua những khai
quật của lịch sử trong núi kho
tàng dữ liệu, từ Pháp,
Mỹ cho tới Tàu Cộng, từ
Việt cộng miền Nam cho tới Cộng
gộc đất Bắc..và VNCH, cho thấy
những chiến thắng của Lê Duẩn,
Võ nguyên Giáp, Văn tiến Dũng..tại
miền nam trong suốt 20 năm đối mặt
với QLVNCH, thật ra không có gì
là vĩ đại như đảng tuyên
truyền. Những trận Ấp Bắc, Ðầm
Dơi, Hiệp Hoà, Suối Ðá,An Lão,
Bình Giã..cho tới cuộc đại
chiến hồi Tết Mậu Thân, những
trận long trời lở đất trên
đất Cao Miên, Hạ Lào, rồi Vũng
Rô, Ba Gia, Phụng Dư, Ðồng Xoài,
Ðức Cơ, Bố Ðức, Cồn
Tiên, Làng Vây, Cô Tô, Trí Pháp..và
mùa hè đỏ lửa 1972 cho đến
hồi gần kết cuộc tại PhanThiết,
Xuân Lộc, Long An, Sài Gòn..mọi nơi,
khắp chốn, từ trong núi cho tới
thị thành, lúc nào cũng đánh
lén, hồi nào cũng biển người,
khi nào cũng có hỏa lực hùng
hậu đưọc viện trợ hay mua chịu
trả sau từ Nga, Tàu..nhưng đâu
có lần nào thây không phơi
đầy bãi, đánh nhanh, rút
vội quay về rừng ? Cho tới khi
thảm kịch VN chính thức thành
hình ngày 27-1-1973, qua cái gọi là
hiệp định chấm dứt chiến
tranh, sau 4 năm 9 tháng Mỹ và khối
CS quốc tế cò kè bán mua cái
thân xác nhược tiểu VNCH. Khi người
Mỹ rút bỏ VN bắt đầu từ
thập niên 70 qua chương trình VN hoá
chiến tranh, không có Mỹ chiến đấu
bên cạnh không ngờ những
năm 1970-1973, QLVNCH qua những Sĩ quan trung
cấp, trong mọi quân binh chủng từ
Nhảy Dù, TQLC, LLÐB, BÐQ, Thiết Kỵ,
cho tới các Sư đoàn bộ
binh 1,2,3,5,7,9, 18,21,22,23,25 kể cả các đơn
vị Ðịa phương quân , được
các nhà quân sử xếp loại
Lính thiện chiến nhất thế giới.
Thật vậy, có là lính để
chứng kiến lính VNCH trong các mặt
trận long trời lở đất tại
An Lộc, Kon Tum, Quãng Trị, Bình Ðịnh,
Thưọng Ðức, Sa Huỳnh, Tống
Lê Chân, Xuân Lộc và những
ngày hấp hối tại Tây Ninh, Củ
Chi, Long An, Biên Hoà, Sài Gòn..mới
biết sự chiến đấu phi thường
của những người lính lãnh
một năm lương, không bằng một
trận cười của các me tây,
me Mỹ và các nhà trí thức
khã kính của miền Nam, số ít
ăn cơm ta thờ ma hồ hay như thị
Bình khoe là theo VC từ lúc còn
ở trong đền thờ ông ngoại
là Phan chu Trinh tại Ða Kao, Sài Gòn.
Hiệp định Paris 1973 là vết dao trí
mạng của Kissinger đâm đúng ngay
hồng tim của VNCH, khi Mỹ và CS quốc
tế hiệp đồng, hợp thức
hoá sự có mặt của bộ đội
Bắc Việt trên lãnh thổ miền
Nam, cắt và ngưng viện trợ cho QLVNCH
như đã từng ký hưá
để tháo chạy trong danh dự ngay
cả trên nóc nhà, Nhưng trên hết
khi Mỹ dùng viện trợ bắt ép
VNCH ký nhận bản hiệp ước
vô lý bất nhẩn 1973, cũng là
lúc quân dân miền Nam khởi đầu
sự tan rã vì bất bình trước
sự kiện miền Nam đang thắng lớn,
bỗng dưng đầu hàng cái mặt
trận MA qua chấp nhận sự hiện diện
của chính phủ LTMN Ma và quân đội
giải phóng MA qua người Bắc thật.
Thêm vào đó là bọn hàng
binh phản chiến, bọn trí thức
thời thượng khôn nhà dại
chợ..tất cả hiệp đồng đâm
sau lưng người chiến sĩ, thì
bảo làm sao lính không chết tới
bị thương ?
Về cái huyền thoại
chống Pháp, chống Nhật, chống Mỹ
cứu nước, thì cũng chẳng
có gì vĩ đại như đảng
ra rã tuyện truyền mút mùa nước
nổi, vì chống Pháp là công
của toàn dân có cả người
anh vĩ đại phương bắc, Nhật
thì đâu có đánh trận
nào mà tự ý họ giãi giáp
và rút về nước sau khi đầu
hàng Ðồng Minh vô điều kiện,
Riêng thắng Mỹ thì lại càng
phải xét lai, vì với lực
lưọng CSVN lúc đó, chỉ mới
đưọc xếp loại ba trên thế
giới, thắng hay bại đều do quân
viện Nga-Hoa, hậu phương trên đất
Bắc sau mấy chục năm chiến tranh triền
miên khốc liệt, coi như sắp cạn
kiệt kể cả người, vậy lấy
gì để thắng Mỹ là một
nước giàu mạnh trên thế
giới, đúng nghĩa vật chất
lẫn quân sự.
Tóm lại người
Mỹ chỉ vì theo đuổi chính sách
tự trói hay đúng ra theo đuổi
một giải pháp chính trị cho Ðông
Dương hơn là dùng bom đạn
gây đổ vở chết chóc như
CS chủ trương , quyền lực trên
đầu súng, trong suốt mấy chục
năm qua. Sự thực ngày nay về
sức mạnh Mỹ qua cuộc chiến vùng
Vịnh năm 1991,Nam Tư và mới đây
tại A Phú Hản, coi Nga Tàu kể cả
Pháp chuyên rình ăn ké như pha,
từ đó đủ chứng minh
rằng với 500.000 quân Mỹ có
hỏa lực hùng hậu nhất thế
giới, hậu phương tiếp liệu
vô tận, giàu mạnh và tài giỏi
như quan thầy Nga còn tan hàng, nếu
Mỹ thật tâm đánh giặc thì
Bắc Việt sức nào mà đở
nổi và chống được bao lâu?
Ngay cả trên bàn cờ chính trị,
CS đã thắng gì, dù có gây
được vài ba phong trào phản
chiến tại Hoa Kỳ, nhưng đây là
sản phẩm của bọn đạo tặc
truyền thông da trắng, chứ không
phải công của VC. Sau này mới
biết được, người Mỹ
đã dự liệu trước sự
vi phạm trắng trợn hiệp định
1973 và bản tuyên cáo của La Cell
St. Cloud vào tháng 6/1973 của Bắc Việt,
để có lý do quốc tế hủy
bỏ lời hứa viện trợ
tái thiết cả chục tỷ đô
la, phong tỏa kinh tế và cấm vận VC
dài hạn cho tới đầu năm
1990 mới hủy bỏ.
Tóm lại cuộc chiến
Ðông Dường lần thứ
ba 1955-1975, dù cho có gọi bằng thứ
danh từ gì chăng nửa như chiến
tranh ủy nhiệm, chiến tranh giải phóng
dân tộc, nội chiến Nam-Bắc..thì
tựu trung cũng là Bắc Việt xâm
lăng VNCH. Cái đa dạng và phức
tạp từ trong định nghĩa ra tới
thực chất, đều thoát thai qua
lớp hỏa mù tuyên truyền và
đống núi tài liệu tả bánh
lù , đối chọi tréo cẳng ngổng
làm cho lớp trẻ trong và ngoài
nước, cũng như những kẻ
bàng quang không biết đâu mà
mò. Từ đó suy diễn bậy
bạ và trút hết mọi thua thiệt
vào kẻ chiến bại VNCH, đáng
ra phải đưọc vinh danh vì công trạng
giữ gìn và bảo vệ nước
Việt trước sự xâm lăng
nhuộm đỏ của CS quốc tế.
Bốn mươi lăm năm
tìm đủ trăm phương ngàn
kế, tận dụng hết tất cả thủ
đoạn, xô lệnh sơn hà, gây
cảnh máu sông, xương núi, để
làm chủ cho được VN, cuối
cùng giờ vinh quang, cũng là lúc
những huyền thoại thay nhau òa vỡ
trong biển lệ trùng trùng, ngay cái
phút đối mặt, người miền
Nam đã bẽ bàng trước
cảnh bị gạt thâm canh, vì cái
mặt trận MA chỉ là công cụ để
bộ đội Hồ nhuộm đỏ đất
Miền Nam nước Việt.
Rồi thì đổi đời
bi thiết ngay trên vùng đất mới
vừa đưọc cách mạng giải
phóng, các anh hùng rừng núi
Trường Sơn, mật khu Hố Bò,
trung kiên với đảng , ngày thứ
nhất về thành đã võ vàng
lột xác trước cảnh sang giàu
của vùng bị tạm chiếm, mà đảng
bảo là đói khổ lầm than. Sự
bịp bợm của cấp lãnh đạo
làm tan vở huyền thoại về ‘
đạo đức cách mạng’. Thêm
một lần nửa người Việt
cả nước nhận thực về
tình công sản, chỉ đẹp khi chưa
nắm chính quyền như trước
năm 1954 ở miền Bắc và 1975
tại miền Nam.
Ðất nước xơ
xác tiêu điều dưới sự
lãnh đạo của tập đoàn
đỉnh cao trí tuệ, dân đói
mặc bây, chỉ lo triễn lãm tội
ác Mỹ Nguỵ, xây kỳ đài
khắp quê làng, phố chợ, in sách
để quảng bá về vụ Mỹ
Lai, Bến Tre nhưng không nói tới
thảm cảnh chôn sống giết dân
Tết Mậu Thân tại Huế, trên đại
lộ kinh hoàng, đường số
7, Bình Ðịnh, An Lộc, phóng đại
huyền thoại Củ Chi lại quên là
Ðịa đạo đã bị san bằng
từ năm nào, kể cả cái
R cũng thành bình địa, khiến
Nguyễn chí Thanh phải tan xương nát
thịt dưới bom Mỹ năm 1967. Tóm
lại tất cả đều đi ngưọc
lại lời Lê Duẩn tuyên bố,
làm giặc chỉ để có quyền
cướp của, giết người,
hủy diệt tôn giáo, đình, chùa,
nhà thờ, coi trí thức miền
nam tệ hơn cục phân như Mao đã
phán, kể cảø số ít trí
thức đã góp phần đem
vinh quang cho đảng. Nắm súng trong tay,lại
bá đạo, tàn độc nên khắp
miền Nam không thấy cảnh bàn thờ
ra đường, ký giả đi ăn
mày, cha tố cáo tham nhủng hay trí
thức khùng coi đời như bửa
tiệc nhân sinh. Tất cả im re lặng ngắt,
thấy cán bộ đầu ngỏ đã
thưa ông cần gì. Sự co mình
của những kẻ hung hăng nhất của
ngày củ, khiến đảng càng kiêu
căng phách lối, đốt hết sách
vở miền Nam, bỏ tù hằng triệu
quân công cán cảnh VNCH trước
cảnh sa cơ, cày mộ tử sĩ
, đuổi hằng trăm ngàn người
Hoa ra khỏi nước để hốt
vàng, chiếm nhà, đoạt xí nghiệp,
tài sản... khiến cả nước
ngáp, đói vì bo bo độn gạo
mọt. Nay hối hận thì cũng muộn
màng, trước giao khoán phần
chống giặc cho lính, còn hạ nhục,
đâm lén, phủ phàng, nay lính
đã rã ngủ, còn ai để
bảo vệ cho dân? Nhưng thê thảm hơn
hết là chính sách trồng người,
mà nạn nhân là các thế hệ
thanh thiếu niên cả nước, bị
nhét vào đầu những trang sử
Việt viết bằng ý thức hệ
duy vật Mác Xít cọng sản quốc
tế, vứt bỏ nhiều anh hùng liệt
nử của dân tộc Hồng Lạc,
đem tên những cha căng chú kiết,
tự phong là liệt sĩ, nữ lưu
gì gì đó trám đầy,
cùng với những bịa đật
tuyên truyền, làm hư hỏng cả
một thế hệ thanh niên ngày nay. Cũng
may, ngày tàn của đảng tới
sớm, nên sự thật đã
tẩy sạch hết mọi bẩn dơ, kỳ
quặc trong số lớn lớp người
trên. Hởi ôi, chỉ có 55 ngày
đêm đại bại, mà VN phải
chịu sống trong cơn ác mộng của
xã nghĩa thiên đưòng, chẳng
biết bao giờ mới ngóc đầu
lên như nhân loại, để thở
hít không khí trong lành của xã
hội người.
2- CÒN ÐÂU NHỮNG
HUYỀN THOẠI BỊP
TẤT CẢ ÐỀU LÀ
CỦA ÐẢNG TA ÐÓ :
Trong Ðại thắng mùa
xuân, Văn tiến Dũng đã nói
một cách huỵt toẹt là nhiều người
có liên hệ tới cuộc chiến
VN, vào những giờ phút cuối
cùng từ tổng thống Pháp Giscard
d’Estaing, Ðại sứ Pháp tại VNCH
Mérillon, Ðại sứ Mỹ Martin, cho
tới Dương văn Minh cùng với
nhóm thân cộng Chân Tín, Lý
quý Chung, Dương văn Ba, Châu tâm
Luân..đều bị cộng sản gạt
một cách cay cú về chuyện hòa
đàm. Nhưng chính cái xảo trá
này, đã khiến cho cộng sản
sau ngày 30-4-1975, phải trả một giá
đích đáng, là không còn
ai trong loài người TIN. Câu dồng
dao "nói như vẹm nói" đã phát
xuất từ đó.
Trong lúc Dương văn
Minh, Nguyễn văn Huyền tin tưởng
ngày mai trời lại sáng, ra lệnh
cho tất cả quân binh chủng/QLVNCH còn
đang chiến đấu khắp mặt trận,
ráng thêm một chút thôi, ngày
mai 30-4-1975, là có hòa bình, thì
theo lời Trần văn Trà viết
trong KTNN số 34 năm 1990, lúc 24 giờ
ngày 29-4-1975, được Lê Duẩn
chọn làm giờ G cho 5 quân đoàn
Bắc Việt, từ 5 hướng tổng
tấn công vào Sài Gòn. Ðây
cũng là thời gian để cán
bộ nằm vùng lộ mặt, xách động
dân chúng nổi dậy diệt chính quyền.
Lúc này Mỹ cũng đã kết
thúc cuộc di tản theo kế hoạch Frequent
Wind và mờ sáng ngày 30-4-1975, đại
sứ cũng bay tới soái hạm
Blue Ridge của hạm đội 7, sau đó
là toán TQLC, kết thúc sự hiện
diện của người Mỹ tại VN
từ 1954
Thế là giấc mộng
nhuộm đỏ miền nam cưu mang từ
năm 1959 đã toại nguyện, từ
đây các cấp cộng sản tự
phong cho mình chức trời, khinh thường
chẳng những bọn trí thức
da trắng, mà cả da vàng mũi toẹt,
cùng quốc dân VN. Cả đảng từ
lớn tới nhỏ, từ Bắc
bộ phủ quyền uy sông núi, cho tới
đám cò mồi trong mặt trận MA,
kể luôn sư đoàn 304 quàng khăn
đỏ, mới lập đêm 29-4-1975,
cũng phun châu nhả ngọc qua hàng ngàn
câu chuyện cổ tích chỉ có trong
đầu những con người mất
nhân tính, kể lại, vẽ vời,
gây ấn tượng và trên hết
dùng súng bắt người đối
diện TIN là gà có bốn chân.
Nhưng phải nói là nhờ chính
miệng các con bài trong chiếu, tự
lật con bài tẩy của mình trước
khán thính giả, người miền
Nam mới chịu tin đó là sự
thật . Thế là thêm một huyền
thoại của đảng bị vùi dập
phũ phàng trong ngàn muôn lời
nguyền rủa và sự khinh bỉ tận
tuyệt dù trước mặt vẫn phải
đối diện với kẻ thù
* TRẦN VĂN DANH KỂ CHUYỆN
PHONG THẦN :
Từ sau hiệp định
ngưng bắn Ba Lê được thi hành
năm 1973, Trần văn Danh, chỉ huy trưởng
quân báo Bắc Việt, kiêm phó
tham mưu trưởng Miền, coi về tình
báo chiến lược, đặc công
và biệt động, được Bắc
bộ phủ cài đặc trong phái đoàn
bốn bên, công khai ngồi chình ình
nơi phòng có gắn máy lạnh tại
trại David, Tân Sơn Nhất, Sài Gòn.
Nhờ đặc quyền, đặc sũng
này mà Danh đã thu nhập được
gần như tất cả bí mật trong ngoài
của VNCH và theo đó mà binh một
ván bài bịp thần sầu qủy
khóc, đưa Minh lớn vào bẩy
rập quyền lực ảo tưởng
để cuối cùng bị mang một tội
danh thiên cổ. Ngay từ khi mặt trận
MA được lên khuôn, Danh theo lệnh
vào Nam từ tháng 12/1960 bằng đưòng
Trường Sơn, hợp tác với
Mười Cúc Nguyễn văn Linh đang
nằm vùng tại đây. Rồi Ban quân
sự Miền của Bắc Việt đưọc
thành lập do Trần văn Quang chỉ huy,
Danh phụ trách tình báo, đặc
công. Theo Danh thú nhận, thời gian
từ 1955-1963, hầu hết các cơ
sở nằm vùng của cộng sản
tại miền Nam bị tiêu diệt và
thất bại nặng nề. Số lớn
còn sống hoặc ra chiêu hồi hay bị
bắt cầm tù. Nhân dịp này,
miền Bắc đã tân tạo cơ
quan, đem cán bộ cộng gộc vào
làm tình báo và bọn này đã
nằm vùng khắp các cơ quan đầu
nảo từ Tòa đại sứ
Mỹ cho tới dinh Ðộc Lập, bộ,
nha, sở.. Theo Danh, trước khi tổng
tấn công miền Nam năm 1975, Lê Duẩn
chơi trước ván cờ thấu
cáy bằng cách đánh Phước
Long và các vùng lân cận do Danh (Ba
Trần), Năm Thạch (Hoàng Cầm) và
Năm Ngà (Nguyễn minh Châu) chỉ huy.
Chiến dịch Phước Long để
Hà Nội phát hiện một cách chắc
chắn là Mỹ đã thật sự
phủi tay, không can thiệp vào miền
Nam, vì vậy Trung ương đảng mới
quyết định công khai xé bỏ
hiệp ưóc, đánh chiếm VNCH.
Giữa lúc trong dinh Ðộc
Lập mê mãi chuyện thay ngựa, đổi
vua để được VC chấm cho hòa
hợp, hòa giải trong chính quyền
liên hiệp cuội, thì Danh cho biết ngay
ngày 24-4-1975, quân ủy miền Bắc
đã ra lệnh cưỡng chiếm
Sài Gòn., do Văn tiến Dũng, Phạm
Hùng chỉ huy đầu nảo cùng với
Trần văn Trà, Lê trọng Tấn,
Lê Ðức Anh, Ðinh Ðức
Thiện coi các lộ quân. Danh lo tình báo,
Mười Cúc phụ trách sư đòan
304 nằm vùng và Võ văn Kiệt
chuẩn bị ngựa xe, trà nước
và người phe ta, chầu đón
giặc bắc vào thành. Danh được
Phạm Hùng phong tướng ngay đêm
miền nam sụp đổ.
* ÐỒNG SĨ NGUYÊN
KHOE BÁT QUÁI ÐỒ :
Ðọc trường thiên
ký sự "Ðưòng đi không
đền" của Xuân Vũ và dăm
lần gót lính lội rừng, mới
ý vị được sự khổ
cực cùng tận của chiến tranh. Trường
Sơn trong suốt cuộc chiến là mồ
chôn hằng vạn tử sỉ của cả
hai phía. Những địa danh như Ðồi
không tên, Dốc pháo cụt, sông
A Vương, Lũng Giằng, Khe Sanh, Dakto, A Shau,Ia-Drang,
Pleime, Ðức Cơ.. ra tới tận
miền Bắc, càng lúc trở nên
khốc liệt khi chính thức là con
đường chiến lược tải
người và quân dụng vào
xâm lăng miền Nam.
Tháng 11-1997, Võ nguyên
Giáp nhắc lại đường Trường
Sơn 559 do Ðinh đức Thiện và
Ðồng sĩ Nguyên chỉ huy, nối
Bắc bộ phủ đến tận các
chiến trường Nam "ruột thịt", có
kèm theo ống dẫn xăng dầu, dùng
cho cơ giới và đoàn vận
tải xuyên sơn. Theo Nguyên, bắt đầu
chỉ huy binh đoàn 559 từ tháng
12-1966 với 750 xe vận tải, bốn binh
trạm có nhiệm vụ chuyển tải người,
quân dụng vào Nam. Một phần đường
mòn chạy trên đất Lào và
Kampuchia mà Hà Nội bảo là họ
cho phép. Ðường chính thức
ra đời vào ngày 19-5-1959 do công
lao phác họa của Võ Bẩm, trải
qua ba giai đoạn đường bộ,
gùi thồ và xa lộ đất từ
năm 1964 bằng xe cộ. Từ năm 1971,đường
được mở rộng đồng
thời với tuyến biển 759 nhưng
hoạt động kém hiệu quả vì
lực lưọng Hải quân/QLVNCH quá
hùng hậu. Binh đoàn 559 có quân
số trên 120.000 người, gồm 10.000
thanh niên xung phong, 1 sư đoàn cao xạ
phòng không tăng phái và tám
sư đoàn chiến đấu vận
tải. Sau ngày ký hiệp định 1973,
Hà Nội bỏ binh trạm và đưa
quân thẳng vào Nam một cách công
khai mỗi lần từ sư đoàn
lên tới quân đoàn, kể
cả cơ giới, pháo, tăng chỉ
mất 12 ngày, thay vì 4 tháng như trước.
Hai sư doàn quân xa dọc ngang xuôi ngược
hết đông qua tây Trường
Sơn , trước sự bất lực
của VNCH vì không có hỏa lực
để bắn hạ, còn Mỹ thì
phủi tay khi ôm hết tù binh và cốt
lính về nước. Tóm lại trong
suốt cuộc chiến, Trường Sơn
là bãi chiến trường đẳm
máu nhất từ năm 1965 trở
về sau. Nhưng hy sinh máu xương để
được gì cho đất nước,
hay chỉ là sự tưởng tiếc
của những kẻ mắn may sống sót,
những cô gái Trường Sơn
mõi ngóng các chàng lính của
cả hai bên, cho tới ngày tuổi
xuân tháp cánh mà bóng ai vẫn
biền biệt theo cái huyền thoại Trường
Sơn đã chết héo trong tâm khảm
của đồng bào sơn cước
bị cướp bốc, khinh rẻ từ
lúc có hòa bình.
* CỦ CHI ÐÃ NÁT
TỰ LÂU RỒI :
Mấy lúc gần đây
thấy đảng quảng cáo rầm rộ
về cái địa đạo Củ Chi
dài tới 250 km, mà bẽ bàng.
Dù sao nguòi viết cũng đã
ăn ngủ với Củ Chi hơn năm,
khi Trung Ðoàn 43 biệt lập tăng phái
hành quân cho tỉnh Hậu Nghĩa, mà
tiểu đoàn 1/43 lại đóng thường
xuyên ở thành đồng vách
cát, gần như không sót một chỗ
nào. Tóm lại Củ Chi mười
lăm xã Phú Mỹ Hưng, An Phú,
An Nhơn Tây, Nhuận Ðức, Trung Lập,
Phú Hòa Ðông, Tân Thạnh Ðông,
Trung An, Phước Vĩnh Ninh, Phước
Thạnh, Phước Hiệp, Thái Mỹ,
Tân Phú Trung và Tân Thông Hội,
lính 43 không bỏ sót một chốn
nào, nhưng đâu thấy địa
đạo. Củ Chi nằm sát nách Sài
Gòn, trên lãnh thổ có rất
nhiều đường giao thông ngang dọc
như quốc lộ 1, tỉnh lộ 15 chạy cặp
sông Sài Gòn, tỉnh lộ 7A và
8A nối liền Bầu Trai, tỉnh lỵ Hậu
Nghiã, qua Củ Chi, thông với Thủ
Dầu Một. Suốt cuộc chiến, Củ
Chi là giao điểm của tất cả
hỏa lực của VNCH và Hoa Kỳ nhắm
vào từ Sư doàn 25 HK, tới
SD5,25 VNCH..vậy làm sao mà Củ Chi có
thể trở thành địa đạo
dài tới 250 km? Ðịa đạo
Củ Chi như lời giải thích của
các bô lảo trong vùng, xuất hiện
trong thời gian khi chính phủ VNCH tiếp
thu từ năm 1955, do các cựu kháng
chiến Việt Minh, không đi tập kết
mà cũng chẳng về tề, đào
để phòng thân, cho nên xã nào
cũng có. Sau đó tình hình
khả quan, số lớn ra hợp tác
với chính quyền hoặc trở
thành người dân thường
nên hầm thành hoang phế. Từ
năm 1959 về sau, Hà Nội lại gây
chiến, lập mặt trận ma đóng đô
trong địa bàn quanh quẩn Tây Ninh,
Hậu Nghĩa sát Củ Chi. Thế là
du kích tìm các hầm hố, địa
đạo củ moi dất để làm
chổ trốn khi bị săn đuổi. Vì
Củ Chi mưa nhiều, đất sốt, nên
hầm hố sau một muà mưa rừng
là xập nếu không tu bổ, trong hầm
là hang ổ của các loại rắn,
bò cạp, rít, chuột.. nên không
mấy ai thích vào, trừ phi giây
phút tử thần réo gọi. Số
du kích, cán bộ bị rắn rít,
bò cạp hạ sát, cũng không thua
số thương vong bom đạn là mấy.
Ðó là mặt thật của địa
đạo 250 km trong tưởng tượng!
Ðịa đạo Củ
Chi qua cuộc chiến thường được
nhắc tới bằng các tên làng
xóm quanh vùng như Hố Bò, Bến
Ðình, Bến Dưọc..một vùng
đồn điền cao su, giữa các
mật khu nổi tiếng như Bời Lời,
Trảng Bàng, Dương minh Châu, Tam giác
Sắt. Mật khu Hố Bò, Củ Chi được
Hà Nội gọi là Phân khu Sài Gòn
- Chợ Lớn giao cho Mười Cúc
và Võ văn Kiệt cai quản, có
Trung đoàn 1012 ( Thủ đô) và
2 Tiểu đoàn Quyết Thắng 1,2 nhưng
gần như chết hết qua nhiều lần
đụng độ triền miên với
Hoa Kỳ và SD25/VNCH. Từ sau Tết Mậu
Thân 1968, quân số các đơn vị
trên được bổ sung từ
miền Bắc vào. Củ Chi tê liệt
từ khi SD 25 Mỹ vào đóng tại
Ðồng Dù, sau đó là SD 101
KVHK, thường dùng chiến dịch
trực thăng bay vào tận ổ, nên
sau này cán gộc cở Cúc, Kiệt
thường ở dưới hầm
cho chắc mạng.
* CHIẾN DỊCH ROM-PLOW ỦI
XẬP ÐỊA ÐẠO CỦ CHI :
Gồm 12 chiếc xe ủi đất
loại lớn, đưọc tướng
Wayan, có vấn trưởng của Ðại
Tướng Ðổ cao Trí, tư lệnh
QÐ3 lúc đó, biệt phái cho TK/Hậu
Nghĩa. Chiến dịch ủi quang khu Hố
Bò, Củ Chi làm Hà Nội điên
tiết . Ðể bảo đảm doàn
xe cơ giới trong lúc khai quang, một
thiết đoàn gồm M48 và M113 của
Hoa Kỳ yểm trợ, bảo vệ an ninh,
xe ủi được bọc bằng lưới
chông B40 và bao cát, nên đã
hoàn thành nhanh chóng công tác
sau 15 ngày làm việc, địa đạo
Củ Chi đã biến thành một vùng
đất rộng thoáng quang, hầm xập
người cũng biến mất. Hết
Hố Bò tới Bời Lời,
sau đó là đường Trảng
Mít, Dầu Tiếng cuối cùng tới
các căn cứ lõm của du kích
ấp xã trong các quận Củ Chi, Trảng
Bàng, Ðức Hòa, Ðức
Huệ..Tình hình an ninh đưọc vãn
hồi, huyền thoại địa đạo
Củ Chi chỉ còn trong các sách giáo
khoa và tài liệu tuyên truyền của
đảng mà thôi.
Tóm lại địa đạo
Củ Chi, Hố Bò, Bời Lòi đã
bị đoàn cơ giới HoaKỳ
hủy diệt năm 1970 như bình địa.
Hầu hết cán bộ cán binh vưọt
trốn qua đất Miên, vậy sau ngày
30-4-1975, thành đồng Củ Chi ở
đâu mà trình diễn? Vậy mà
vẫn có người tin, điều
này làm cho thế giới phải
nể sợ sự nói láo không
ngọng của người CSVN, nhất là
trong giai đoạn sự thật ai cũng biết
hết.
Năm nay , người Việt
trong và ngoài nước bừng
lên niềm căm phẩn và tủi nhục
khi phát giác thêm sự kiện Bắc
bộ Phủ vì quyền lực cá nhân
mà bán, nhượng giang san tổ quốc
cho kẻ thù Tàu Cộng. Có diều
nực cười trong nước, ngoài
một số đếm trên đầu
ngón tay chỉ mặt bọn phản quốc,
các trí thức đương thời
hầu hết đều im re, có một
ông Bùi Duy Tân nào đó , lên
báo thế giới mới hỏi
ai là tác giả bài thơ ‘Nam quốc
sơn hà’ thế thôi. Chuyện mới
khơi lại chuyệc cũ mấy chục năm
về trước, trong lúc Quảng Trị
bị Hà Nội xua quân qua sông Bến
Hải cuỡng chiếm, cùng lúc
cả nước đắm chìm trong
bom đạn ngoại xâm từ An Lộ,
Bình Ðịnh lên tới Kon Tum, người
dân chiến nạn và lính chết
như rạ, thì tại Sài Gòn, thay vì
cùng quyết lòng giết giặc, lại
biểu tình, xuống đường..
rồi ngày 10-10-1974, nước đang
trong cơn lửa loạn, Mỹ cúp viện
trợ, VC từ Bắc vào Nam như
sóng vở bờ , chuẩn bị
cướp nưóc, thì lại biểu
tình.. đi ăn mày. Ðây chắc
là điềm báo trước, nên
sau ngày 30-4-1975 cả nước gần
như đi ăn mày trước sự
cướp của, giựt nhà của
kẻ thắng trận.
Nhớ ngày Quân lực
19-6-2002
Hồ Ðinh
|