Truyện ngắn
Bụi
rau dền gai
Bắc Phong Sài
Gòn
Buổi sáng, những
tia nắng rừng vạch sương rọi
thẳng xuống sân trại. Những tàn
cây, thân thẳng như những chiếc
đũa chọc trời, không đủ
sức che những vạt nắng càng
lúc càng hừng hực trên lưng
người tù. Những chiếc ba
sườn cong lên khi người tù
khom xuống. Một ngày như mọi ngày,
đám tù tập họp chờ lao
động. Hơn ba tháng lao động giữa
rừng xanh, cơm mục lẫn sạn cát,
canh măng trộn muối, ngủ không mùng,
đi chân trần, đau ốm không
thuốc men, chết nhẹ nhàng như giun dế.
Cả chục người chết chỉ mới
mấy mươi ngày tập trung lao động,
chờ hoài không thấy bút giấy,
học hành gì. Thét rồi dường
như người tù nhận luôn cái
số kiếp con người lên khu rừng
này chỉ có nhiệm vụ lao động
và ngả xuống theo ông bà, không
cần một giọt nước mắt của
mẹ cha.
Hà quay sang người
bạn thắc mắc:
- Mày thấy bữa
nay có cái gì là lạ không?
- Ừ! Nói nhỏ
nhỏ vậy! Tụi nó nghe rắc rối!
- Lẽ ra bây giờ
đã chui hết vào rừng cắt
tranh và xắn măng. Bây giờ
còn đứng đây, chả có
lệnh lạc gì! Tao thấy trên trại
có mấy tên cán bộ mới
đến.
Toàn trại gần
như im thin thít. Gần với cái
chết, gần với bệnh tật, gần
với cảnh chôn bè bạn không
một miếng ván hòm... làm cho đám
tù chai đi, ù lì và phó mặc.
Nhưng quả thật, sáng nay, trong đầu
đám tù, người nào cũng
thắc mắc như Hà. Bỗng mọi người
không hẹn, mấy trăm cái đầu
quay nhìn về văn phòng trại trưởng.
Trung Ống Vố đi với một tên
cán bộ lạ mặt, thẳng xuống sân
trại, sau hắn là hai tên bộ đội,
súng cầm tay. Dường như cả
hai khẩu AK đạn đều trong tình
trạng tác chiến.
- Tất cả các
anh, thứ tự từng dãy trại,
mang hết đồ đạc ra sân tập
họp và chờ lệnh. Các anh nghe
rõ không?
- Rõ!!
Ðám tù như
những cái máy, tuần tự
mang gia tài rách rưới ra sân
sắp hàng. Bóng nắng đã nghiêng
góc. Rừng Kà Tót hôm nay khác
lạ, ngay cả chiếc lá rơi cũng
không bình thường, nó không
rơi xuống đất mà đậu
trên vai người tù, nhẹ nhàng,
êm ái. Tâm trạng những người
tù cũng không giống như mọi ngày.
Một chút âu lo, một chút hy vọng.
Có kẻ lại cóc cần.
- Kệ mẹ mày!
Ði đâu cũng được!
Miễn là thoát được chỗ
này!
- Ê mày! Mấy
thằng sốt rét bò càng mỗi
đêm lên cơn sốt làm sao nó
chuyển trại?
- Tao đâu biết!
Cái thân tao tao không biết có lết
nỗi vài chục cây số đường
rừng hay không thì còn lo cho ai được!
Không chừng lúc tụi mình đi,
mấy ông nội sốt rét sợ
cọp ăn cũng phóng theo. Mày khỏi
lo.
Trên ban chỉ huy trại,
một tên bộ đội bỗng ôm ra
mấy cái võng. Hắn bỏ võng
xuống đất, chống súng và
nhìn vào đám tù.
- Ê! Anh kia! Ra khỏi
hàng... Anh kia! Anh kia nữa! ... Khẩn trương
lên! Hai anh nhận một cái võng để
khiêng người bệnh, nhanh lên!
- Thưa cán bộ!
Tôi yếu, mới hết cơn hôm
qua, chắc khiêng không nổi!
Một tên bộ đội
lên nòng đạn AK, nhát gừng:
- Ðịt mẹ! Tôi
không cần biết! Anh có khiêng hay
không thì bảo!
Thế là đám
tù tong teo phải thay phiên nhau võng những
đám tù da bọc xương rời
trại. Lệnh chuyển trại không hề
được báo trước, nó
đến một cách đột ngột.
Nó cũng không cho đám tù
biết sẽ về đâu... Ðám
tù dắt díu đưa nhau rời
trại, vượt rừng theo một lối
mòn hướng về liên tỉnh
lộ số 8, hai bên súng ống bộ
đội chạy ngược chạy xuôi
...
Ðoàn xe chở
tù từ trại Kà Tót về
đến Sông Mao thì trời đã
về chiều. Trại tạm trú là doanh
trại của một đơn vị bộ binh
VNCH bỏ hoang phế tự bao giờ. Có
một số tù các nơi được
chuyển về đây mấy hôm trước.
Họ đứng từng nhóm nhìn
đám tù mới đến.
- Trời đất
ơi! Mấy anh em này bị nhốt ở
đâu mà ông nào cũng như
ông nấy, ốm và xanh xao như những
thây ma!
- Có mấy anh em
không xuống xe được, làm
sao mình tới giúp họ!
- Bộ mày muốn
bị nằm chuồng cọp chắc! Mày
không thấy mấy thằng bộ đội
hầm hầm nhìn đám tù hay sao?
Họ cấm quan hệ với người
mới tới. Bộ mày quên tên
cán bộ nói buổi sáng hay sao?
- Tao thấy dường
như có mấy thằng bạn quen! Ð
M, tụi nó hành con người ta cái
kiểu gì mà thằng nào cũng
như những con ma đói!
Khi mọi người
đã xuống xe, tập trung điểm
danh, bộ đội đuổi tất cả
đám tù cũ đang tụm năm
tụm ba bàn tán về đám tù
mới đến về phòng. Hà
nói nhỏ với người bạn
tù:
- Mấy ông nội
kia ở đâu mà sao tao thấy họ
còn mướt và khỏe mạnh quá
vậy mậy?
- Tao loáng thoáng
thấy mấy thằng Ðà Lạt và
Phan Rang. Có lẽ tụi nó trình diện
ở Lâm Ðồng, Ðà Lạt
hay Ninh Thuận thì phải. Tụi mình số
con rệp mới trình diện ở
Bình Thuận để bị đày lên
Kà Tót. Chắc kiếp trước
mắc nợ Trung Ống Vố! Nghĩ mà
tội những anh em không về Sông
Mao với mình!
- Ai?
- Sao mày ngu quá
vậy! Mấy chục đứa chết
trên Kà Tót kể từ lúc
mất Lâm Ðồng, vượt rừng
về Phan Thiết bị bắt, và một
số anh em nghe lời xúi dại trình
diện sớm, như thằng Biên, chi khu
Tuy Phong... đa số đều ngủ lại
thiên thu trên Kà Tót. Về đây
tao mới thấy cái sống, may ra có
cơ còn sống!
- May ra là sao? Sao lại
may ra?
- Thì ai biết!?
Mình như con dế trong hộp, tụi nó
rinh đi đâu thì mình chết dí
ở đó. Ai cấm sáng mai, tuần
sau tụi mình bị chuyển đi nơi khác
còn tàn độc hơn Kà Tót!
- Kệ mẹ nó!
Coi như hết số rồi! Tìm chỗ
ngả lưng cái đã! Mai còn sống
thì thấy mặt trời mọc, còn
chết thì bỏ, trở về với
cát bụi, lo nghĩ hoài mệt quá!
Ðêm đầu
tiên ở Sông Mao là đêm
thần tiên. Ðám tù ngủ say
như chết. Sáng ra không thấy rừng
cây u ám, không thấy những rừng
tranh ngun ngút, không thấy cắt lên
rừng đốn tre, chặt mây... và
không thấy cái cùm dài hàng
chục thước xỏ chân người
như xâu cá nục, nhung nhúc những
rệp mỗi đêm về. Nhưng khi nắng
lên, hực lửa đổ xuống
mái tôn, anh em bỗng nhớ những
tàn cây trong rừng Kà Tót,
nhớ dòng suối uốn quanh bên
sân trại, nước trong và mát.
Kà Tót vô cùng nên thơ trong
những đêm trăng tỏ, trừ
những đêm trăng cọp gầm
hay về chụp mấy con heo của trại. Trại
không có hàng rào, chỉ nghe tiếng
lách cách của AK ở đâu
đó, nó làm cho trăng vỡ,
nó làm cho đêm thành ác mộng...
Cuối hè 1975, đầu
tháng Tám, trời Sông Mao đổ
nắng, nước không có, từng
toán tù chia nhau đào giếng. Chẳng
có giếng nào có nước
trên vùng đất cao. Những ngày
đầu chưa phân trại, nhìn ra bên
ngoài hàng rào thấy dân qua lại
cũng đỡ buồn, nhưng nghe tiếng
bà bán xôi bắp rao hàng, hàng
trăm bao tử của đám tù
thi nhau co thắt. Ðói! Cái đói
trên rừng Ka Tót cận kề tử
sinh nên nó ngủ yên, nay về đồng
bằng, gần dân, gần thôn làng,
gần với những giấc mơ
được gia đình tiếp tế..
. nên nó thao thức, nó đòi
hỏi, nó dày vò. Trại thì cấp
lương thực cho tù gần như lấy
lệ kiểu nuôi mèo hoang, nên đám
tù phải kiếm thức ăn như
trâu bò để dằn bao tử.
Cả một khu doanh trại
quân đội VNCH bỏ hoang mọc lên
đủ thứ, khoai mì, rau đồng
tiền, rau lang, rau dền trơn, rau dền gai
nuôi heo và những cây bắp rài.
Các toán tù đến trước
đó vài ngày từ các
nơi khác, khỏe mạnh, hồng hào,
còn dự trữ thức ăn
của gia đình, họ nhìn bọn tù
về từ Kà Tót như những
tên ăn mày đói rách, thất
thểu lang thang dưới nắng hè
tìm đủ mọi thứ rau để
ăn dậm. Lúc đầu thì chỉ
nhặt các loại rau lang, đồng tiền,
rau dền trơn. Vài ngày sau, đến
bắp non, đọt mì... Và một tuần
sau nữa thì sạch, chỉ còn những
thảm cỏ còi cháy nắng và
khu dền gai mọc cao hơn đầu người
đầy sâu bọ, rắn rết.
Hà nằm trong toán
tôi. Tôi chịu đựng, lầm
lì. Hà bất xúc lo âu.
- Anh Hai! Tụi mình
quả ăn nhanh hơn trâu bò. Chưa
đầy 10 hôm mà mình ngốn cha
nó hết những thứ rau dại,
cỏ hoang, mà vẫn đói thấy
bà tổ. Chẳng hiểu tại sao mấy
thằng chả cho tụi mình ăn như mèo!
- Ở Kà Tót,
tôi thấy tụi mình là những
con vật. Về đây, nhìn anh em Ðà
Lạt, Lâm Ðồng, Ninh Thuận mình
mới thấy hy vọng mình được
đối xử như con người
một chút. Nhưng đói thế này
thì thành ma đói, cắt đi lao
động là chắc chết! Hà có
biết đại úy Nguyễn Văn Tư
hấp hối từ hôm qua không? Chắc
Tư ra đi trước bọn mình!
- Toán mình có
bác sĩ Lê Bá Dũng mà!
- Bác sĩ Lê
Bá Dũng làm gì được
với mấy triệu con trùng sốt
rét tràn ngập trong máu Tư? Bộ
anh tưởng hễ là bác sĩ
thì có quyền án ma ni thần phù
chữa hết bệnh, khỏi cần Chloroquine,
Quinine, Fansida chắc?
- Tôi không rành
chuyện thuốc men. Không về đây,
anh Tư cũng chết trên Kà Tót,
về đây ảnh chết gần nhà
hơn! Số kiếp! Thôi anh để tôi
chạy tìm chút rau cỏ gì để
cải thiện chiều nay!
Hà chụp lên
đầu cái mũ làm bằng bao
cát bước ra ngoài. Tôi nghĩ
bụng " bây giờ là lúc Hà
BÐQ tận dụng hết ngón mưu sinh
thoát hiểm" trong các lớp rừng
núi sình lầy trước đây.
Ở trong cái rọ này, mưu sinh thét
rồi cũng không còn một cọng
cỏ non, còn thoát hiểm thì vô
kế khả thi! Ngày xưa, quân trường
Sình Lầy Dục Mỹ đâu có
ngờ, đâu có dự liệu
cái ngày phe ta thê thảm như hôm
nay.
Tôi qua phòng Lê
Bá Dũng, Tư hai mắt lờ đờ
gần như đứng tròng. Tôi
phụ Dũng đổ một ít nước
vô miệng Tư. Dũng lắc đầu.
Dũng là y sĩ chỉ huy phó Quân
Y Viện Ðoàn Mạnh Hoạch Phgan Thiết
và Tư là sĩ quan tài chánh.
Hai người cùng đơn vị, hội
ngộ trong tù, và sắp chia tay, chia tay không
có ngày gặp lại! Tôi là bạn
học cùng lớp. Hai thằng trơ mắt,
xuôi tay trước cái chết sắp
xẩy ra trong giây phút của bạn mình.
Tư tắt thở sau đó trên
tay tôi và Dũng. Thêm một đứa
ra đi. Những người ở
lại cũng chai đá trước
cái chết gần như định số,
kẻ trước, người sau...
Buổi chiều, Hà
trở về, kéo theo một bụi rau dền
gai tổ chảng bị chặt gốc. Hay tin Tư
qua đời, Hà khựng lại, thở
dài rồi tiếp tục với bụi
dền gai, coi như không có chuyện gì
xẩy ra.
- Bụi dền gai tổ
bố này Hà kiếm ở đâu
vậy?
- Ở gớc
trại, sát hàng rào kẽm gai. Chỗ
đó chui ra được bên ngoài
là thoát, vì nó nối sát
với một đường mương.
Nhưng lạng quạng coi chừng vướng
mìn phe ta còn để lại. Ớn
bỏ mẹ!
- Bộ gần đó
không có trạm gát sao?
- Bây giờ
thì không. Tương lai thì không biết!
Thôi bỏ chuyện này đi. Lọt tai
cán bộ là khốn nạn.
Lần đầu
tiên kể từ ngày lên Kà
Tót và chuyển về đây, bữa
nay mới nghe Hà đề cập tới
chuyện trốn trại. Bị cắt đứt
với bên ngoài, bị khủng hoảng
đến tê liệt tinh thần ở
bên trong, tôi gần như không có
ý niệm gì cho cái chuyện vượt
thoát. Thế nhưng hôm nay,khi nói chuyện
thì thầm với Hà, tôi bỗng
thấy bầu trời bung rộng lớn
hơn, màu xanh của đám cây ngoài
trại dễ thương hơn, cánh chim trên
bầu trời nhẹ nhàng hơn và
nỗi khát khao tự do bừng bừng
trổi dậy. Nó trổi dậy như sóng
vỗ, và nó cũng tan mau như cơn
sóng lùi ra biển khi tầm mắt nhìn
vào lớp kẽm gai vây kín, bên
ngoài lảng vảng bóng dáng những
tên bộ đội đi tuần. Khi tôi
tư lự, Hà bắt đầu chặt
bụi dền gai ra từng nhánh.
- Chiều nay toán
mình bồi dưỡng mấy nhánh
này. Phần còn lại cho ngày mai!
- Dền gai toàn
là gai làm sao ăn được?
- Bộ anh không biết
người ta bầm dền gai nấu cháo
heo sao? Heo ăn được là người
ăn được. Món này có
trong danh sách các thứ rau cỏ mưu
sinh. Lần này tụi mình mưu sinh, chuyện
thoát hiểm hạ hầu phân giải!
Con người có số, giàt saut có
số, tới đâu hay tới đó!
Anh em xúm nhau lặt
tất cả đọt non, tất cả lá,
bất kể lá non hay lá già. Thân
cây dền lô nhô những gai nhọn
hoắc được anh em róc bỏ,
chặt ra từng khúc, tước vỏ
ngoài còn lại cái lõi bên
trong. Ðọt và lá luột riêng,
lõi thân dền luộc riêng. Cả
đám chụm đầu nhau ăn buổi
chiều, gạo mục, rau dền chấm nước
mắm. Một bữa ăn thần tiên
của anh em nhờ ngón nghề mưu
sinh xưa của Hà.
Sang đến đầu
năm 1976, trại Sông Mao được
phân trại theo cấp bậc tù nhân
dưới cái tên trên giấy
tờ: Tổng Trại 8 Tù Tàn Binh
Sông Mao thuộc quân khu 6 của Việt cộng.
Trại A ở phía đông tập trung
tất cả sĩ quan từ đại úy
đến đại tá. Ðại tá
Lê Hưng Phê, chỉ huy phó BÐQ/QK2
cũng nằm trại này. Trại B nằm
ở giữa tập trung tất cả
anh em sĩ quan cấp trung úy, và trại
C nằm về hướng Tây gồm
tất cả anh em thiếu úy và chuẩn
úy. Tù nhân phải tự làm
trại và hội trường lấy để
chuẩn bị học tập chính trị.
Từ khi tổng
trại gom tù các nơi về và chia
làm ba phân trại, tôi ở trại
A, Hà ở trại B, cách nhau một
hàng rào kẽm gai gang tấc mà anh
em lại xa như ngàn trùng. Sau gần 6
tháng xây trại và các dãy
phòng học, toàn trại bị dẩy vùi
đầu vào các lớp học
chính trị tẩy nảo, nhồi sọ với
bài học số một: " Ðế quốc
Mỹ là kẻ thù của nhân dân
thế giới và là kẻ thù
số một của dân tộc Việt Nam"...
" Tội ác ngụy quân, ngụy quyền..."
Ba dòng thác cách mạng..." , rồi
thu hoạch, rồi kiểm điểm, toàn
những thứ nhét vô lại trào
ra, nhưng nó lại làm cho con người
phờ phạt, thèm đi lao động,
thèm phơi nắng giữa trời,
thèm vật lộn với mồ hôi
hơn là ngồi chồm hỗm nghe những
bài nhồi sọ.
Cho đến khi bắt
đầu trở lại giai đoạn lao
động, đám tù ba trại thỉnh
thoảng mới gặp nhau. Dọc đường
xe lửa cách ga Sông Mao về phía
Nam độ ba bốn cây số, tù nhân
ba phân trại được lệnh tập
trung phá rừng thưa trờng bắp.
Có những buổi trưa hạnh phúc
khi nhìn đoàn tàu đi ngang qua. Có
những buổi trưa hạnh phúc khi một
vài cánh tay nỏn nà con gái đưa
tay vẫy về phía đàn tù đang
chống cuốc đứng nhìn đăm
đăm. Dường như ai cũng muốn
tìm trong đám đông trên toa
xe hình bóng thân thương của vợ
con, cha mẹ. Một vài anh em vẹt nước
mắt, không biết nước mắt
hay mồ hôi. Có những toa tàu
đi qua, có những toa tàu mất
hút. Hà là người nhìn
tàu hỏa đi qua một cách chăm
chú như bị con tàu thâu miên.
Tôi gặp lạ Hà trên các luống
bắp, đang nhìn theo con tàu. Tôi kéo
Hà vào một bóng cây, nhìn quanh,
không có ai, tôi hỏi.
- Hà! Khỏe hả?
Sống bên trại B ra sao?
Dường như
Hà gặp tôi mà quên cả mừng,
quên cả trả lời câu hỏi.
Trong đầu Hà đang bị một cái
gì cuốn hút. Hà bất chợt
hỏi:
- Nghe nói ngày
xưa đơn vị đầu tiên sau
khi anh ra khỏi lò Thủ Ðức là
An Ninh Thiết Lộ?
- Ừa! Lính
xe lửa!
- Anh thấy sau khi rời
ga Sông Mao chạy ngang khu rừng này mà
xe chạy tộc độ mình thường
thấy hàng ngày, anh có thể phóng
theo nhảy lên tàu được không?
- Hà ơi! Tôi
hiểu Hà rồi! Tội quá! Bây giờ
hai cái giò tôi muốn teo lại không
biết có chụp tàu được
không, nhưng thuở xưa thì lính
An Ninh Thiết Lộ lên tàu và xuống
tàu dễ dàng với tốc độ
này. Hà còn trẻ, còn khỏe,
tôi không biết sao, nhưng nguyên tắc
là phải chạy theo tàu gần với
tốc độ tương đương, rồi
chụp thành tàu phóng theo. Không thể
đứng một chỗ phóng lên
tàu khi tàu chạy, và cũng không
thể chạy chậm hơn tàu mà phóng
được lên tàu. Vấn đề
là có một khoảng thuận tiện để
có thể chạy theo tàu.
- Tôi hiểu rồi!
Thôi mình chia tay, hết giờ ăn
trưa, tụi bộ đội đang đi tới.
Tôi lách ra, cúi
đầu vun những gốc bắp. Hà
biến mất trong mấy lùm cây. Hôm
sau, Hà gặp lại tôi cũng vào
giờ nghĩ trưa. Cũng lại một
đoàn tàu đi qua. Mỗi đoàn
tàu đi qua để lại trong đầu
Hà một viễn tượng vượt
thoát mạnh hơn. Hà tâm sự:
- Thú thật, trong
số anh em, tôi biết anh hơn cả. Tôi
tin anh hơn cả. Tôi lại biết cả
đơn vị đầu tiên của anh.
Hay là tôi và anh tìm cách thoát.
Về thẳng Sài Gòn, anh sống lang
thang với tôi, sau đó tụi mình
tìm cách chui xuống miền Nam.
- Hà biết, khát
vọng tự do, khát vọng thoát tù
trong tôi không thua gì Hà cả. Tôi
đã mơ ngàn giấc mơ. Tôi
mơ trong giấc ngủ, tôi mơ khi ngả
lưng nhình những con chim bay, tôi mơ
những đám mây lang thang trên
bầu trời... Cái thân tôi đánh
cuộc cái chi tôi cũng cóc cần,
nhưng tôi mà thoát là cả lò
nhà tôi bị hốt, bị vây bũa,
khốn nạn. Tôi biết rõ cảnh
này. Tôi chịu đựng, tôi
an phận tù đày một phần cũng
vì cái an nguy của gia đình. Chế
độ này không từ một ai.
Chế độ này không có chuyện
ai làm nấy chịu. Họ cột nhau một
chùm, họ cột cả nước một
chùm.
Hà nắm tay tôi
xiết mạnh.
- Anh giữ gìn
sức khỏe. Tôi đã định
một con đường. Anh cầu cho tôi
nghe. Anh đạo Phật hả! Anh thầm tụng
kinh cho tôi nghe!
- Ừ! Tối nay,
tôi sẽ lấy đũa làm nhang
hướng qua trại B tụng Nam Mô Cứu
Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ
Tát cho Hà! Hà phải thật cẩn
thận, kín đáo, đừng để
ai hay, thoát không được thì
tìm cách nhập vào toán lao động
để về trại. Tụi nó phát
giác là tàn đời, Hà
hiểu không!
- Anh đừng
lo! Số tôi cao lắm!
Hôm sau, các toán
lao động lại tập trung ở rẫy
bắp. Kể từ khi hết học tập
chính trị và ra lao động đến
nay, chưa có một vụ đào trại
nào. Buổi trưa đám vệ binh chui
vào bóng râm, các toán lao động
cũng ngừng việc tìm bóng mát
ăn trưa. Hà băng mình như con chuột
lủi xuống ống cống và chui sang
bên kia đường rầy xe lửa.
Trưa đó Hà không gặp tôi.
Chuyến tàu về Nam hú những
tiếng còi dài rời ga Sông
Mao tiến gần, càng gần đến
ngang rẫy bắp. Tôi gần như bỏ
ăn, hồi hộp nhìn đoàn tàu
đi qua. Tôi hồi hộp sợ nghe tiếng
súng nổ. Không có gì. Tôi mừng
cho người bạn trẻ. Ðoàn
tàu mất hút. Tôi cứ đăm
đăm nhìn theo mà tưởng chừng
Hà đã thoát được
lên tàu. Mọi người lại bắt
đầu lao động tiếp. Buổi chiều,
trên đường về, toán lao
động trại B về trước, đi
ngang qua toán tôi, tôi kinh ngạc thấy
Hà thất thểu vát cuốc đi
chung toán, áo quần rách toạt mấy
chỗ, chân đi cà nhắc. Hà
nhìn tôi lắc đầu. Tôi nhìn
Hà lắc đầu rồi lục đục
theo toán đi về trại.
Buổi lao động
kế tiếp, gặp Hà, tôi chưa hỏi
được câu nào, Hà đã
lên tiếng thì thầm:
- Xuýt nữa
là thoát! Tôi chờ toa chở
gỗ sau cùng không có người,
chạy theo kiểu anh nói, nhưng tôi chụp
hụt thành tàu, té muốn gẩy
bản họng. Chả ai thấy tôi. Tôi
lăn xuống mé đường rầy,
lom khom bò về ống cống, chui qua rẫy
về nhập bọn lao động tỉnh bơ.
Phải trước kia ra trường tôi
chui vô cùng đơn vị lính xe lửa
với anh thì hay biết mấy!
- Tôi lo điếng
người. Khi tàu mất hút, tôi
cứ ngỡ Hà là con chim xổ
lòng tối nay tung tăng ở Sài
Gòn!
Một thời gian
sau, khi các toán lao động không làm
việc chung trên cùng một đám
rẫy, tôi không có cơ hội gặp
lại Hà. Tôi không biết Hà còn
ở trại hay đã "hổ mất
xác". Rồi mọi chuyện cũng quên
đi. Một đêm Sông Mao lạnh cứng
người, cơn mưa ném mạnh những
hạt nước theo gió qua khe vách
tù. Cái lạnh của đêm, của
mưa, của gió, của những tấm
vĩ sắt thay ván không ngăn nỗi
những mệt nhọc của một ngày
lao động mệt nhoài, đám tù
cứ ngả lưng là lăn ra ngủ.
Nửa đêm, bỗng có tiếng
AK nổ, và thượng liên trên
chòi canh nổ theo dồn dập. Có tiếng
bộ đột cộng sản chạy thình
thịch. Cả trại thức giấc. Cơn
mưa lại tiếp tục. Tiếng súng không
còn nổ. Nhiều anh em đoán chừng
là có người vượt trại
bên phân trại B. Tôi bỗng lo cho Hà
và không ngủ được đến
sáng.
Buổi sáng, trời
tạnh mưa và mây tan. Mặt trời
lên sớm. Tôi ra sân trại, vờ
đi cầu ở hầm cầu gần
hàng rào kẽm gai phân trại B để
quay mặt nhìn qua một góc hàng rào
đầy những bụi dền gai, nơi
bộ đội cộng sản chùm nhum làm
cái gì đó. Bỗng tôi điếng
người. Họ khiêng ra một xác
người mắc dính dưới
hàng rào kẽm gai. "Trời ơi!
Hà!"
Thì ra làHà
đã tìm cách vượt trại
ngay đám dền gai mà Hà phát
giác từ lúc rời Kà Tót
về Sông Mao, Hà đã dự
trù chuyện này từ lâu,và
cuối cùng Hà đã thua cuộc.
Miền Nam đã
không dự liệu được ngày
1975. Quân lực đã không dự
liệu được cái cảnh mưu
sinh mà không đường thoát
hiểm, và Hà đã bỏ mình
ngay bụi dền gai ban đầu trong ngững
ngày mưu sinh trên vùng đất
chết của cái gọi là Tổng Trại
8 Tù Tàn Binh Sông Mao.
Tội nghiệp Hà,
một con chim bất khuất, khao khát tự
do, bị chết oan nghiệt trong chiếc lồng
tù ngục.
Bắc Phong Sài
Gòn
|