Sóc
Con Trăng
Lâm Chương
Sóc
Con Trăng. Cái địa danh lạ lùng,
nằm về phía Tây Nam, sát biên
giới Việt Miên. Nếu so với
ngàn xanh mênh mông, Sóc Con Trăng
chỉ là một trảng trống rất nhỏ
giữa rừng già, thuộc mật
khu Dương Minh Châu. Nhìn vào bản
đồ quân sự, nơi đây
có những vòng cao độ màu
nâu thưa thớt, biểu thị một
ngọn đồi thoai thoải. Ước
hiệu bản đồ còn cho thấy, có
chừng vài mươi nóc nhà
nằm rải rác trong khu vực. Nhưng
hiện tại, Sóc Con Trăng hoàn toàn
hoang dã. Những nền nhà cũ
của một thời xa xăm, đã
mất dấu.
Sớm mai. Ðứng
trên đồi nhìn ra bìa rừng.
Sương mù kéo một vệt dài
trắng xóa, như dải lụa bạch vây
quanh chân đồi, che lấp cây xanh.
Khi mặt trời vừa lên, sương
tan rất vội. Phút chốc, cảnh vật
hiện ra rõ nét, biến đổi không
ngờ. Rồi sương chiều lại
tụ, lúc mặt trời chìm khuất
sau rừng cây yên ả. Cái yên
ả đìu hiu giả tạm bề ngoài.
Trời vừa chạng vạng, chim rừng
thôi líu ríu trên cây. Mặt đất
bắt đầu nhá nhem bóng tối
thì từ trên đồi có những
người đi xuống, xâm nhập
vào rừng cây. Và ở một
nơi bí mật nào đó, cũng
có những kẻ âm thầm len lỏi,
tiến sát về Sóc Con Trăng. Tất
cả, họ là loài săn mồi ban
đêm. Trong im lặng của rừng già,
ẩn giấu biết bao điều hiểm
nguy bất trắc. Những đôi mắt
mở trừng không xuyên qua được
bóng tối, họ vận dụng khả năng
thính giác. Gióng lỗ tai nghe ngóng.
Tiếng vỗ cánh của con chim đớp
muỗi, cũng làm họ chú tâm
lo lắng. Tiếng gãy đổ một cành
cây khô, cũng làm họ giật mình
hồi hộp. Súng luôn mở khóa
an toàn, trong tư thế sẵn sàng khai
hỏa. Tử thần không bao giờ
nhân nhượng cho kẻ vô ý để
mình bị đối phương phát
hiện trước. Khó có cơ hội
rút kinh nghiệm bản thân để sửa
sai, sau lần đầu tiên lầm lỗi.
Xác suất sống còn rất ít,
khi đứng trước tầm đạn
địch.
Một ngày giữa
tháng Chạp. Tiểu đoàn được
trực thăng vận vào vùng đất
ấy. Vùng đất mà thời
bình không ai thèm bén mảng. Nhưng
trong thời chiến, đó là một
yếu điểm, các nhà quân sự
muốn chiếm lấy ưu thế, chận
họng đối phương. Và đối
phương lúc nào cũng cảm thấy
khó chịu. Họ muốn móc cái
xương vướng mắc trong cổ,
để khai thông huyệt đạo từ
Quảng Ðức, Phước Long, Bình
Long xuống Tây Ninh, và từ Kampuchia
vào mật khu Dương Minh Châu. Thế
là Sóc Con Trăng trở thành
chiến địa. Hai bên đổ máu,
giành nhau từng thước đất
trên ngọn đồi khô, đầy
những cỏ dại phất phơ bông
trắng. Dưới chân đồi cũng
chẳng có gì hơn, ngoài loại
cỏ tranh cao ngang bụng, trải dài ra tận
bìa rừng.
Ngày đầu
tiểu đoàn đến đây. Tình
hình còn rất yên tĩnh. Có
thể đối phương chưa kịp chuẩn
bị để làm một cuộc tấn
công. Nhưng vẫn phải đề phòng
bị đánh úp bất ngờ
lúc tiểu đoàn đang chân ướt
chân ráo. Các toán tiền đồn,
và tuần tiễu an ninh chung quanh khu vực,
hoạt động ráo riết. Số còn
lại, lo ổn định vị trí, bắt
tay vào việc đào công sự
phòng thủ. Bộ chỉ huy tiểu đoàn
đóng trên đỉnh đồi, ngay
trung tâm cái mỏ ác của những
vòng cao độ. Từ đó, có
thể nhìn bao quát được các
đại đội nằm bao quanh dưới
lưng chừng đồi.
Mọi người
trong tiểu đoàn đều biết,
nhảy vào Sóc Con Trăng là một
thử thách lớn đối với
địch quân, đông hơn nhiều
lần. Hai công trường 7 và 9 của
quân Bắc Việt đang áp sát biên
giới, phía bên kia phần đất
Kampuchia. Theo cái công ước quỷ
quái gì đó, cam kết hai nước
không xâm phạm biên giới lẫn
nhau. Quân Bắc Việt lợi dụng lãnh
địa an toàn này, làm căn cứ
hậu cần vững chắc. Ðưa quân
sang biên giới đánh đấm.
Xong, rút về bên kia dưỡng quân.
Tiểu đoàn bị ngăn cấm tuyệt
đối, không được nã
pháo qua Kampuchia. Không có cuộc chiến
nào quy định những điều
bất lợi lạ lùng như thế.
Chịu thiệt thòi để giữ
cái tình giao hảo của hai quốc gia.
Thằng nào tức thì cứ chửi
đổng, nhưng lệnh vẫn phải thi hành.
Tòa án quân sự đang chờ
đợi những ai vi phạm quân
kỷ ngoài mặt trận, để tống
vào quân lao. Tên nào cũng ớn!
Không qua được
biên giới, người ta thả
tiểu đoàn xuống Sóc Con Trăng,
làm miếng mồi nhỏ, nhử đàn
kiến lớn bu lại để tiêu
diệt. Nhưng tiêu diệt bằng cách
nào, chỉ có mấy ông tướng
tư lệnh quân đoàn, sư đoàn
biết. Anh em lo ngại, không khéo cả
đơn vị sẽ phơi thây trên
ngọn đồi này, nếu đối
phương quyết tâm áp dụng chiến
thuật biển người, tiền pháo
hậu xung. Trong pho chiến sử đã
từng ghi lại các trận đánh
đẫm máu, lấy mười đổi
một, chỉ với mục đích làm
bàn thắng, gây tiếng vang và mặc
cả trên bàn hội nghị. Sóc Con
Trăng có quan trọng đến mức
đối phương phải trả cái
giá quá đắt như thế hay không?
Ðâu ai biết. Dù gì đi nữa,
một khi đã vào tử địa,
không có con đường lựa
chọn nào khác hơn là tử
thủ, quyết liệt chiến đấu.
Ai cũng muốn còn cái mạng trở
về. "Giành sự sống trong nỗi
chết". Câu nói hồi còn trong
quân trường là châm ngôn
duy nhất để giữ mạng mà
thôi.
Tôi là trung đội
trưởng. Một chức vụ nhỏ
trong guồng máy lớn. Chỉ huy hơn
hai mươi tay súng. Nằm tuyến đầu,
trước mũi đạn. Chịu cái
gian nguy của một khinh binh. Lại đèo
thêm nhiệm vụ làm gạch nối từ
đại đội trưởng xuống
anh em binh sĩ. Sức ép của cả
hai bên dồn lại, trung đội trưởng
chịu đủ tiếng chì tiếng bấc.
Anh em binh sĩ bê bối, đại đội
trưởng khiển trách trung đội
trưởng. Công tác cực nhọc,
hành quân không có lúc nghỉ,
anh em cằn nhằn văng tục, trung đội
trưởng nghe. Những khi rỗi việc
ngồi tán gẫu, bạn bè nói
đùa ám chỉ trung đội trưởng
là cầm cặc chó đái. Dù
nói đùa, nhưng không phải không
đúng. Làm trung đội trưởng,
chẳng ăn được cái giải
gì, chỉ khổ thân. Con nhiều cha, tụ
về một mối. Mỗi người
ương ngạnh một kiểu khác nhau. Không
dễ chỉ huy. Hai năm làm trung đội
trưởng, cho tôi nhiều kinh nghiệm
đắng cay. Mềm quá, bị coi thường
lờn mặt. Cứng quá, gây
bất mãn. Tốt nhất là hòa
mình cùng anh em đồng đội, nhưng
có lúc cũng phải mượn kỷ
luật làm răn đe những anh ba gai,
hoặc tắc trách trong nhiệm vụ.
Hoàn cảnh gia đình
để lại sau lưng, về đây
làm những đứa con trung đội,
chịu chung một tình huống. Bỏ đi
những tị hiềm dị biệt. Nương
tựa vào nhau mà sống. Tương
trợ nhau mà đi qua những cơn
lửa đạn. Không ruột thịt cũng
thành thân thiết. Ðêm chiến
hào, khum đầu trong nón sắt, chia
nhau từng hơi khói thuốc. Rủ
rỉ kể cho nhau nghe nỗi niềm tâm sự.
Cha mẹ, vợ con, người yêu bé
nhỏ đang chờ đợi nơi
phố thị đông người, hay
một miền quê nghèo nàn hẻo
lánh nào đó.
Hồi chiều, lúc
đang đào công sự phòng
thủ, thằng Công hỏi: "Thiếu úy
ơi. Con đào của tôi, nó hẹn
về đi chợ tết. Tiểu đoàn
mình, có ra khỏi cái nơi hắc
ám này, trước tết không?"
Tôi nói: "Hẹn
lại tết năm sau đi."
"Như vậy là
mình ăn tết ở đây?"
"Ăn tết hả?
Mày hỏi mấy con khỉ đột trong
rừng, nó có chịu để yên
cho mày hay không?"
"Ðánh đấm
hoài, chán bỏ mẹ! Hết rừng
núi, lại sình lầy. Không biết
ngày nào hết khổ."
Nó than, như chính
tôi là người làm cho nó
khổ. Tôi bảo: "Lính nào cũng
khổ. Chỉ có lính kiểng là sướng
thôi, con ạ!"
Thằng Công im lặng,
khi vị đại đội trưởng
đi tới, đôn đốc và
kiểm soát các trung đội đào
hố cá nhân dọc theo phòng tuyến.
Ông dặn, đào hố phải làm
nóc kiên cố. Tình hình căng
thẳng lắm. Nếu địch quân tràn
ngập vị trí, pháo binh sẽ bắn
nổ chụp ngay trên đầu. Thằng
nào lười biếng, không làm
nóc, là tự mình khai tử.
Ông nhai lại điều này nhiều
lần. Anh em phát bực.
Ðại đội
trưởng đi khỏi, thằng Nhân
nói: "Ðù mẹ! Chết sống có
số. Khi đã tới số, thì
chạy đàng trời cũng không
khỏi nắng."
Thằng Tứ Ách,
chống cán xẻng, phanh ngực áo,
quạt phành phạch, cũng phụ họa:
"Những thằng ở thành phố,
đang nằm trên bụng vợ, bỗng
ngã lăn ra chết vì thượng
mã phong. Số trời đấy."
Lại một thằng
nữa, tiếp theo: "Thế là sướng
tới hơi thở cuối cùng.
Tao thà chịu chết vì thượng
mã phong, chứ không muốn ở
đây chết chung với bọn mày."
Nhiều tiếng cười
hô hố sau câu nói.
Tiểu đội trưởng,
tên Nẫm, đang hì hục đào
hố, ngẩng lên nhìn: "Chỉ lo tán
dóc và cười. Cả buổi,
mà quào cái hố chưa bằng cái
lỗ đĩ. Khi đụng trận, thằng
nào chạy qua hố tao núp ké, tao đạp
văng ra ngoài."
"Ðất cứng
quá, trung sĩ ơi."
"Lúc nào cũng
rên. Muốn đi đầu thai sớm
thì vất xẻng, khỏi cần đào
hố."
Tôi đi dọc
theo phòng tuyến, quan sát phần trách
nhiệm trung đội. Giữa tháng Chạp,
nhưng nắng của buổi xế chiều
ở đây, vẫn còn gay gắt
lắm. Ai cũng tháo mồ hôi. Ðào
một cái hố cá nhân trên thế
đất đồi khô cứng, không
là chuyện dễ.
Biết vậy, nhưng
tôi vẫn nói: "Khi mặt trời lặn,
thằng nào chưa xong tao tống ra nằm
tiền đồn."
Có tiếng đáp
lại của Ðiền Ðô: "Dọa ai
thì dọa. Chứ thằng này là
dân chơi thứ thiệt, không ngán
đâu. Ðừng dọa."
"Mày bảo tao dọa
hả? Ðù mẹ! Có ngon thì ngồi
hút thuốc, làm thơ đi con. Tối
nay sẽ biết đá vàng ."
Ðiền Ðô
im lặng. Nó biết tôi không đùa.
Tiền đồn
cho một đơn vị là toán quân
báo động, nằm ngoài tuyến
phòng thủ. Do đó, toán tiền
đồn thường đặt ở
những nơi tiên liệu địch
quân có thể xâm nhập áp sát
đơn vị. Tiền đồn là
toán chạm địch đầu tiên.
Muốn tấn công một đơn vị,
địch quân phải tiêu diệt cho được
những toán tiền đồn chung quanh
phòng tuyến, từ ngoài xa. Và
như thế, đơn vị phòng thủ
kịp thời chuẩn bị tác chiến,
trước khi địch quân tiến
đến gần kháng tuyến chính.
Trong trận mạc, người ta chấp nhận
hy sinh một số nhỏ, để bảo toàn
lực lượng lớn. Ðóng
quân ở những vùng bị áp
lực địch nặng nề, dù là
thằng to gan nhưng tới phiên vác
ba lô, xách súng đạn đi làm
tiền đồn cũng lạnh cẳng.
Anh em trong đơn vị,
thường nói năng lỗ mãng,
tưởng có thể ghét bỏ hại
chết đời nhau. Nhưng thật ra, đó
lại là điều thể hiện sự
gần gũi thân tình của những
thằng đi trận. Ðặt cho nhau những
cái biệt danh quái gở để
cười vui. Dần dần biệt danh trở
thành quen thuộc, không còn gọi bằng
nhau bằng tên chính thức nữa.
Thằng Công khinh binh, biệt hiệu Công
Ngủ. Thằng Ðức mang súng phóng
lựu M79, gọi Ðức Cạp. Thằng
Ðiền tiểu đội phó là
Ðiền Ðô. Thằng Mai phụ xạ
thủ đại liên, những lần
về phép hay la cà nơi các động
mãi dâm, anh em đặt Mai Ghế. Thằng
Ty vác đại liên, thường
khoe con cu của nó là một vưu vật
lý tưởng trên đời,
nên được tặng danh hiệu Ty Cai
Dù. Những biệt danh này, được
hiểu theo nghĩa nói lái. Còn có
những biệt danh, chỉ đặc tính.
Như thằng Minh mang máy truyền tin, hay đánh
tráo bài ba lá, gọi Minh Ðiếm
Chảy. Thằng Nhân cấp bậc hạ sĩ,
viết thư về cho vợ, chưa gởi
đi, bị anh em coi lén, thấy nó thay
chữ ký bằng bốn con bài cơ
rô chuồn bích. Từ đó,
anh em gọi nó là Nhân Tứ Ách,
để phân biệt với Nhân súng
cối. Thằng này hay chửi thề
nên có hỗn danh Nhân Ðù. Thượng
sĩ trung đội phó, trước
kia thuộc Sư Ðoàn 25 Bộ Binh, sau đổi
qua Biệt Ðộng, mang danh Mai Chò Gãi.
Mới đầu, tôi không hiểu
ý nghĩa của cái tên kỳ lạ
này. Anh em giải thích, "mai chò gãi"
là tiếng lóng của dân bụi đời,
chỉ con số 25.
Ðêm Sóc Con
Trăng. Trời se lạnh. Trăng mù
sương ẩm đục màu sữa.
Không gian chìm lắng. Tiếng côn trùng
sầu não bãi tha ma. Thỉnh thoảng,
nghe khoen dây súng khua lách cách của
đốc canh đi kiểm soát lính
canh dọc tuyến phòng ngự. Những
anh em khác, cuộn mình trong tấm poncho, ngủ
mê mệt sau một ngày vất vả.
Nửa khuya. Tiểu
đoàn báo động giả, tập
phản ứng cho quen với vị trí
phòng thủ mới. Hỏa châu cháy
rực bầu trời, chói lòa
xuống mặt đất, soi rõ từng
bông cỏ dại trên đồi. Chúng
tôi ngồi dưới hố cá nhân.
Ðầu đội nón sắt, mình
mang dây ba chạc đeo túi đạn,
tay súng trong thế tác chiến. Bên
ngoài vòng đai, đạn pháo nổ
quanh chân đồi như sấm sét.
Tưởng khó có một ai vượt
qua lằn ranh đạn pháo mà còn
toàn vẹn. Ðưa tiểu đoàn
vào đây, người ta đã
dự trù một trận đánh lớn.
Nằm trong cái thế bị tấn công
bất cứ lúc nào, tiểu đoàn
được ưu tiên hỏa lực
pháo binh. Tất cả những căn
cứ trọng pháo trong tầm tác
xạ, lúc nào cũng hướng
súng về Sóc Con Trăng, sẵn sáng
yểm trợ.
Khi chấm dứt
báo động, mọi người đều
tỉnh táo, khó dỗ giấc ngủ
trở lại. Tôi và thằng Minh Ðiếm
Chảy, ngồi chung trong cái hố đôi.
Nó cằn nhằn:
"Thà địch kéo tới, đánh
nhầu một trận cho xong. Chờ đợi
và báo động hoài, còn ngủ
nghê gì được."
"Mày là thằng
chết đến đít, vẫn còn
ham ăn ham ngủ."
"Thức khuya lạt
miệng. Thiếu úy, cho xin điếu thuốc."
Nó chép miệng.
Tôi nói: "Hút
thuốc ban đêm. Coi chừng bị bắn
bể sọ dừa."
"Không sao đâu.
Em che trong nón sắt."
"Từ hồi chiều
đến giờ, mày xin thuốc mấy
lần rồi? Hút ghiền, thì phải
lo thủ sẵn chứ. Tao đâu phải
cái kho phát thuốc cho mày."
Nó cười
giả lả, chìa tay ra: "Ðiếu thuốc
giá đáng chi, mà nói những
câu mắc mỏ. Thiếu úy?"
"Ðiếu này
là điếu chót nghe mậy. Hút
xong, ráng treo mỏ. Ðừng xin tao nữa."
Tôi rút một
điếu cho nó. Nó khum đầu,
xòe lửa trong nón sắt, hút
vài hơi rồi trao cho tôi.
"Hút chung một điếu
đi. Ðỡ hao."
Tôi rít một
hơi dài, rồi nhìn mặt nó. Trong
ánh trăng nhòa nhạt của đêm
mù sương, mặt nó khắc khổ
đăm chiêu.
Một lúc sau, nó
nói nhỏ: "Buồn quá."
"Sao mày rên rỉ
hoài vậy?"
"Con vợ của
em..."
"Lại nữa. Mày
nói chuyện này hằng trăm lần
rồi. Nó bỏ mày đi lấy thằng
khác chứ gì? Tao không muốn
nghe."
"Nhưng nó còn
nói xấu, rằng em mê cờ bạc."
"Cũng đúng
thôi. Kỳ lương nào, mày cũng
nướng hết vào sòng bạc.
Ði phép, xách cái đít không,
về nhà với bộ mặt đưa
đám. Bảo sao nó không chán?"
"Nhiều khi tức,
muốn trả thù."
"Ðừng có
điên. Ở tù đấy, con ạ!
Cứ bình tĩnh, rà rê kiếm
con vợ khác. Làm lại cuộc đời."
"Không dễ. Ðàn
bà con gái, đâu phải muốn
chộp bắt lúc nào cũng được?"
Tôi an ủi: "Mày
là thằng đẹp trai số một của
trung đội. Lo gì?"
Nghĩ ngợi một
hồi, nó nói: "Phải chi em được
như thằng Ty Cai Dù, thì ngon quá."
"Ngon thế nào?"
"Nó bảo nhờ
"cai dù" mà nó được cơm
no bò cỡi."
Tôi gạt ngang: "Thôi.
Bỏ chuyện bá láp đó đi.
Lo ngủ. Mai còn công tác."
Nói xong, tôi lên
khỏi hố. Nằm co, trùm bằng tấm
poncho lạnh ngắt.
Ngày nào tiểu
đoàn cũng mở những cuộc
hành quân cấp đại đội
quanh khu vực Sóc Con Trăng, và dọc
theo biên giới. Chẳng thấy bóng
đối phương. Nhưng ngày nào
tiểu đoàn cũng bị pháo kích
hai, ba lần. Nhất là những khi có
chuyến không vận tiếp tế vào
Sóc Con Trăng. Trực thăng vừa
chạm mặt đất, pháo rót tới
liền. Quân tiền sát của địch
vẫn bám sát đâu đây.
Rừng rậm quá, khó phát hiện
được vài ba tên tiền sát
ẩn núp giữa ngàn xanh. Mỗi
lần, pháo chừng năm bảy quả.
Súng cối 82 ly từ bên kia biên
giới bắn sang. Tiểu đoàn vô
phương phản pháo. Tuyệt đối
tuân hành cái lệnh không xâm
phạm biên giới giữa hai nước.
Ðành ôm đầu máu, chịu
trận. Kampuchia là nước trung lập,
nhưng lại chứa chấp mấy sư
đoàn quân Bắc Việt. Thật chó
má! Anh em gào cái tên Sihanouk mà
chửi.
Ban ngày là thế.
Ban đêm cũng chẳng yên. Vài
đêm lại có đụng độ
ngoài các toán tiền đồn.
Nhiều khi địch len lỏi qua khỏi tiền
đồn, bắn vào vị trí phòng
thủ. Tình trạng báo động liên
miên. Nón sắt, và súng đạn
đeo dính bên người. Hỏa
châu soi sáng, và pháo yểm ầm
vang một góc trời.
Tinh thần anh em sa sút
trầm trọng. Mệt mỏi. Chán chường.
Ba ngày tết của năm 1969, trôi qua
trong quên lãng giữa rừng già.
Dù chỉ mới có những cuộc
chạm súng lẻ tẻ, nhưng tiểu đoàn
đã tổn thất khá nhiều do
pháo kích. Tiểu đoàn trưởng
gọi về Bộ Tư Lệnh, xin ra khỏi vùng
hành quân Sóc Con Trăng. Ðược
trả lời rằng, chưa cần thiết
tiểu đoàn có mặt ở những
nơi khác. Nghe thế, mọi người
đều bất mãn. Càng bất mãn
càng chửi thề. Trung đội tôi,
bây giờ, thằng nào cũng bắt
chước Nhân Ðù. Mở
miệng ra là có đù mẹ, đéo
bà. Nghe mãi thành nhàm tai.
Sau một tháng trời
ở đây, quân số tiểu đoàn
hao hụt. Lớp chết, lớp bị
thương. Bổ sung tân binh, mặt thằng
nào cũng ngơ ngáo. Chưa quen chiến
trường, mỗi lần bị pháo
những tân binh quýnh quáng đến
tội nghiệp.
Một buổi chiều.
Tôi đi kiểm soát, thấy thằng
Ngô tân binh gác ngoài phòng tuyến.
Súng đặt ngang đùi. Nó ngồi
bất động, nhìn ra bìa rừng.
Rừng chiều, sương xuống âm
u một màu ảm đạm. Tôi nhẹ
nhàng lần đến sau lưng. Nó
không hay biết. Tôi vỗ vai. Nó giật
mình, quay lại nhìn tôi. Tôi thấy
hai hàng nước mắt của nó
chảy dài xuống gò má. Nó
đang thổn thức. Nó quẹt nước
mắt, cười gượng.
Tôi ngồi kế
bên: "Tại sao mày khóc?"
Nó làm bộ
ngạc nhiên: "Em có khóc đâu?"
"Mày đừng
chối. Có ai hiếp đáp, bắt
chẹt gì mày không?"
"Không." Nó lắc
đầu.
"Thế sao mày chảy
nước mắt?"
Nó ngó mông
ra rừng. Không trả lời.
Tôi giục: "Nói
thật đi. Thằng nào chèn ép
mày?"
"Em chỉ buồn."
"Ở đây,
tao cũng buồn như mày. Chịu đựng
một thời gian, rồi tiểu đoàn
mình sẽ chuyển đi vùng khác,
đỡ hơn. Nhưng, tại sao mày
chọn binh chủng này?"
"Thấy mấy anh lính
đội bê rê, mặc đồ hoa về
thành phố, trông rất oai hùng. Em
thích, và tình nguyện về binh chủng.
Mãn khóa, em chưa được về
thăm nhà. Người ta bốc thẳng
từ quân trường, thảy xuống
đây. Hồi trước, em đâu
ngờ đời lính gian khổ,
hiểm nguy thế này. Em không tưởng
tượng nổi..."
"Ðừng buồn
nữa. Ngày nào ra khỏi Sóc Con
Trăng, tao đề nghị cho mày đi
phép về thăm nhà."
Nó mừng: "Thật
hả, thiếu úy?"
"Tao nói thật. Dù
tao biết mày về là đào ngũ
luôn. Tao chỉ giữ thằng nào ở
lại thôi."
"Không đâu.
Em sẽ trở lại."
"Nếu mày kể
cho má mày nghe cảnh này, dù mày
muốn trở lại, bả cũng níu
áo không cho mày đi."
"Em không đào
ngũ, vì thương những người
trong trung đội mình." Nó kể bằng
chân tình. "Hôm trước, bị
pháo kích. Chạy về hố không
kịp, em chui đại xuống hố trung sĩ
Nẫm, tiểu đội trưởng của
em. Cái nón sắt em bị văng mất.
Anh Nẫm chụp cái nón sắt của
ảnh lên đầu em, đè em nằm
xuống. Còn ảnh đầu trần,
ngồi phía ngoài. Trong trung đội, ai
cũng lo cho em. Mọi người đều
có tình. Em không nỡ đi luôn."
"Mày biết thương
anh em là được rồi. Ðời
lính không phải khổ mãi thế
này đâu. Mày về đơn
vị nhằm lúc tiểu đoàn đang
ở cái chốn khỉ ho cò gáy,
nên cảm thấy buồn. Ráng một
thời gian nữa thôi, rồi tiểu
đoàn sẽ được chuyển
vùng hành quân."
"Một thời gian
nữa, là bao lâu?"
"Tao không biết.
Còn phải chờ..."
Khi nói câu đó,
tôi nghĩ đến một trận đánh
lớn. Ngày nào chưa xảy ra một
trận thư hùng, thì tiểu đoàn
còn phải ở đây, để
thực hiện cái kế hoạch làm
mồi nhử đàn kiến.
Trận đánh
lớn, trước sau gì cũng
không tránh khỏi. Mới đầu,
mọi người còn lo âu. Nhưng
thời gian thấp thỏm đợi
chờ với những cơn mưa
pháo hàng ngày, những đụng
độ lẻ tẻ về đêm làm
anh em mệt mỏi nên đâm liều.
Muốn đánh nhầu một trận cho
xong, ra sao thì ra. Không có gì khổ
cho bằng chờ đợi trong tinh thần
căng thẳng. Pháo bắn vòng cầu,
từ trên trời rơi xuống.
Rớt trúng cái hố nào, người
trong hố đó vong mạng. Chui rúc trong
hang cũng cảm thấy không an toàn.
Mỗi lần nghe bên kia biên giới,
có tiếng vọng um, um, um... của súng
cối, chúng tôi chạy vội về vị
trí của mình, nhảy xuống hố
ngồi nín thở. Cũng vừa
kịp lúc đạn pháo nổ ầm,
ầm, ầm..., vang động cả vùng
đồi Sóc Con Trăng. Những lần
núp pháo như thế, tôi thường
trấn an bằng điếu thuốc. Phó
mặc đời cho may rủi.
Ðể tránh
bớt thiệt hại vì pháo, tiểu
đoàn giảm quân số phòng thủ
trên đồi. Ban ngày tung các đại
đội ra hoạt động chung quanh. Ban đêm
rút quân về, chừa lại một
đại đội đóng quân lưu
động trong rừng. Kế hoạch này
có cái lợi, nếu địch
tấn công mạnh vào tiểu đoàn,
thì đại đội lưu động
sẽ đánh bọc hậu đối phương.
Vòng đai phòng
thủ, bây giờ thưa hơn, chỉ
có ba đại đội. Nhưng bù
lại, đạn dược dự trữ
được tăng cường tối
đa. Mỗi hố cá nhân, chứa
sẵn một thùng hai mươi bốn quả
lựu đạn, và hai thùng đạn
nhỏ một ngàn viên. Với số
đạn này, có thể bắn suốt
đêm không lo bị thiếu.
Các sĩ quan trong
tiểu đoàn được dặn
dò nhắc nhở anh em binh sĩ phải
hết sức đề phòng. Ý
định của đối phương là
quần cho tiểu đoàn mệt mỏi,
rồi sinh ra lơ là chểnh mảng. Ðến
một lúc nào đó, sẽ bất
ngờ đánh úp, diệt gọn
tiểu đoàn. Lời dặn dò
này, không có tác dụng gì cả.
Anh em chỉ mong sớm rời khỏi Sóc
Con Trăng.
Ngoài những
người thương tích do những
cuộc chạm súng lẻ tẻ, hoặc bị
pháo kích, đã có năm ba vụ
tự hủy hoại thân thể. Sống
trong tinh thần căng thẳng ngày đêm
không ngớt, anh em cảm thấy quá
khổ sở, và dám làm những
điều bất chấp hậu quả.
Trưa hôm qua. Toán
tuần tiễu của trung đội tôi,
báo cáo có người bị thương.
Tôi vội đưa toán khác ra thay
thế, cho toán cũ khiêng thương
binh về. Thằng bị thương là binh
nhất. Khi tôi đến, nó không
nhìn mặt tôi. Nó là thằng dễ
thương của trung đội, sốt sắng
trong mọi công tác. Lúc y tá lau chùi
sát trùng vết thương, tôi thấy
xương bàn chân nó bị bể,
ngón cái và ngón kế bay mất.
Vết thương không nguy hiểm, nhưng
sẽ bị tật sau này. Y tá băng
bó xong. Nó nằm nghiêng trên chiếc
brancard, quay lưng về phía tôi.
Lúc chờ trực
thăng tải thương dưới chân
đồi, tôi hỏi: "Tiểu đội
trưởng báo cáo, mày bị
thương do giẫm phải bom bi. Ðúng
không?"
Nó vẫn không
nhìn tôi, trả lời: "Ðúng."
"Mày có thể
qua mặt tiểu đội trưởng, nhưng
không qua mặt tao được."
Nó im lặng.
"Mày hủy hoại
thân thể."
"Không. Em đạp
phải bom bi."
Tôi cười
mũi: "Tao xem vết thương, biết chắc
mày rút ngòi nổ ra khỏi quả
lựu đạn, kẹp ngòi nổ giữa
hai ngón chân, và cho kích hỏa."
Nó vẫn nói:
"Không. Em đạp phải bom bi."
Tôi dọa: "Thôi
được. Tao sẽ báo cáo, để
sau khi trị thương, mày ra trước
tòa án quân sự mà chối."
Nó quay lại. Ðôi
mắt khẩn thiết nhìn tôi, van nài:
"Thiếu úy ơi..."
"Không có thiếu
úy con mẹ gì nữa hết. Mày
muốn qua mặt tao."
"Em lỡ dại..."
Nó khóc thút thít. "Em không chịu
nổi cảnh này."
"Ừ. Thà rằng
mày nói thẳng với tao như thế,
còn nghe được. Nếu trước
đây, mày cho tao biết ý định,
tao sẽ chỉ cách cho mày. Gởi
thư về, bảo người nhà đánh
cái điện tín, báo cha đau mẹ
chết gì đó. Rồi tao sẽ đề
nghị cấp giấy phép, mày về
thăm nhà. Nhân cơ hội đó,
mày đào ngũ luôn. Như thế,
có phải an toàn không? Còn mày
hủy hoại thế này, cái chân
sẽ mang tật suốt đời."
"Thiếu úy ơi...
Trong lúc quẫn trí, em làm chuyện
điên rồ..." Nó nói trong nước
mắt.
Tôi thông cảm
với nó. Chính tôi, lúc bất
mãn cũng muốn đào ngũ. Nhưng
bất mãn ai? Tất cả chúng tôi
đều là nạn nhân, cớ gì
mà bất mãn nhau? Những kẻ mưu
đồ thế lực gây nên chiến
tranh, không có mặt ở nơi này.
Nguyền rủa ư? Thì cứ nguyền
rủa, nhưng thằng nào tự tách
mình ra khỏi cái guồng máy chiến
tranh khốn nạn, ắt phải thân tàn
ma dại như thằng em của trung đội
tôi đang nằm đây nhức
nhối.
Khi trực thăng
tải thương đáp xuống, nó
nói: "Em đi. Thiếu úy và anh em
ở lại bình yên."
Tôi nói: "Ðược
rồi. Mày về yên trí. Tao không
hại mày đâu. Mày sẽ giải
ngũ, và được lãnh tiền
do bị thương ngoài mặt trận."
Một đêm, cuối
tháng Giêng.
Trời đất
lờ mờ. Ðứng trên
đồi nhìn ra bìa rừng, chỉ
thấy viền cây tối ám, chắn
dưới chân trời mù đục
âm u. Mọi người giật mình
choàng tỉnh. Ðơn vị bị pháo
dữ dội. Không phải bằng súng
cối 82 ly, mà bằng nhiều khẩu đại
pháo từ bên kia biên giới
bắn sang. Ðồng thời các toán
tiền đồn báo cáo, trong rừng
có nhiều tiếng động bất thường.
Tiểu đoàn ra lệnh thu hồi gấp
rút tiền đồn trở về,
tăng cường thêm quân số
phòng thủ.
Ðây là lần
đầu tiên, địch pháo kích
ban đêm. Cường độ pháo
thật khủng khiếp, nhưng một nửa
đạn pháo lọt ra ngoài kháng
tuyến. Tuy thế, mặt phòng thủ phía
đông cũng tan nát, gần như tê
liệt. Nhiều người chết và
bị thương. Tiểu đoàn cho trung
đội trừ bị từ đỉnh
đồi, xuống trám ngay lỗ hổng
phòng tuyến. Hỏa châu sáng rực
bầu trời, cùng lúc với
pháo yểm cho tiểu đoàn, vây
một hàng rào sấm sét quanh chân
đồi. Dưới ánh sáng hỏa
châu, lớp lớp địch quân
liều chết xông qua lằn ranh đạn
pháo, và gãy gục khi chưa tới
được phòng tuyến. Một trận
thư hùng chờ đợi bấy
lâu, có phải là đây? Tôi
bắn liên thanh, rà đạn sát
đất. Lựu đạn ném ra, cản
bớt lớp người xông
tới. Mùi thuốc súng nồng
lên mũi. Tôi thở hổn hển.
Tinh thần căng thẳng cùng tột. Hai
bàn tay run lẩy bẩy mỗi lần rút
chốt lựu đạn. Trước
khí thế cường địch, tôi
mất bình tĩnh. Tôi nghe nhiều tiếng
la "Xung phong... G...i...ế...t" Tiếng "giết" kéo
dài đẫm mùi máu, làm rợn
xương sống. Giờ phút này,
không bỏ chạy đi đâu được.
Thằng nào phóng lên khỏi hố
cá nhân, là tự phơi thân
cho địch bắn. Chết sống gì
cũng phải nằm lại đây. Và
bắn. Và tung lựu đạn. Dọc
theo công sự phòng thủ, nhiều
chỗ bị B40 phá tanh banh bao cát chắn
đạn. Nếu cứ cái đà
xung phong ồ ạt này tiếp diễn mãi,
địch quân sẽ tràn ngập vị
trí.
Sau mấy đợt
xung phong, không chọc thủng được
phòng tuyến, đối phương ngừng
tấn công, chỉnh đốn lại hàng
ngũ. Trong khi đó, chúng tôi chịu
thêm trận pháo thứ hai của địch,
từ bên kia biên giới rót
sang, khốc liệt hơn. Lần này, đối
phương điều chỉnh lại tọa độ
thật chính xác. Pháo rớt ngay
đỉnh đồi. Bộ chỉ huy tiểu
đoàn lãnh đủ. Tôi bò
đi kiểm soát từng hố cá
nhân, dọc theo phòng tuyến trung đội.
Những người tử thương
được lôi ra khỏi hố cá
nhân, tôi điều động anh em khác
thế vào. Những thương binh, phải
tự băng bó vết thương của
mình. Y tá trung đội đang quằn
quại trên vũng máu. Thằng Ngô
tân binh, nó đang hấp tấp nạp
thêm đạn vào các băng trống.
Tôi hỏi: "Trung sĩ
Nẫm bỏ phòng tuyến đi đâu
rồi?"
Nó không trả
lời, đưa ngón tay chỉ qua hố
bên cạnh. Một cái xác úp mặt,
nằm nửa trên nửa dưới
hố cá nhân.
Tôi trấn an: "Mày
đừng di chuyển khỏi chỗ này.
Cứ ngồi đây. Không sao đâu."
Nó nói như
van: "Thiếu úy ở đây với
em."
Tôi làm bộ
không nghe, tiếp tục bò đi kiểm
soát trung đội.
Gặp tiểu đội
phó, tôi dặn: "Trung sĩ Nẫm tiêu
tùng rồi, mày ráng lo cho anh em tiểu
đội."
Tôi chưa kịp
quay về vị trí, đối phương
mở cuộc tấn công lần thứ
hai. Tôi nhào xuống cái hố của
một thương binh. Thằng này không
còn đủ sức chiến đấu
nữa. Tôi giật cây súng, đẩy
nó ngã lăn ra phía sau lưng. Bị
chạm vết thương, nó đau đớn
kêu trời. Tôi không còn thì
giờ quan tâm đến nó. Trước
kháng tuyến, từng đợt,
từng đợt xung phong. Tôi bắn
như điên khùng. Lựu đạn
nổ sát phòng tuyến. Lớp này
gục xuống, lại thấy lớp khác
tràn lên. Sau lần thứ nhất
bị tấn công, nhiều người
trong đơn vị bị loại khỏi vòng
chiến. Quân số khiển dụng còn
lại ít hơn. Khả năng phòng thủ
cũng yếu hơn. Tôi lo phòng tuyến
bị vỡ. Theo kế hoạch dự trù,
khi đối phương tràn ngập vị
trí, pháo binh sẽ bắn nổ chụp
ngay trên đầu, đạn nổ cao, cách
mặt đất mười lăm thước.
Miểng pháo tạt xuống. Mà miểng
pháo thì đâu có phân biệt
bạn thù. Và như thế, hai bên
cùng chết. Không biết phía bên
kia đồi, phòng tuyến bị vỡ
hay chưa? Ðơn vị còn cầm cự
được bao lâu? Trước sau
gì, cũng bỏ mạng trên ngọn đồi
này. Mồ hôi tôi ướt mặt.
Bị đẩy tới đường
cùng rồi. Tôi bắn, Tôi ném
lựu đạn. Tôi thở dồn
dập. Tôi cắn răng. Hình như tôi
có gào thét những tiếng vô
nghĩa gì đó. Tao chết, thì
mày cũng phải chết. Thiên địa
đêm nay nhập lại. Bạn thù chung
cuộc tử sinh.
Ðang trong tình trạng
tuyệt vọng, bỗng có tiếng phản
lực cơ gầm rú trên không.
Lẫn trong tiếng súng, tôi nghe nhiều
tiếng la mừng rỡ của anh em đồng
đội. Trái bom napan đầu tiên
trải một thảm lửa dưới
chân đồi. Ðối phương núng
thế thấy rõ. Chúng tôi lên
tinh thần. Chiến đấu bình tĩnh,
và có hiệu quả hơn. Trước
phòng tuyến, địch quân dội ngược.
Những trái bom tiếp theo làm thành
vòng đai lửa sát bìa rừng,
quanh đồi Sóc Con Trăng. Phi tuần
phản lực vừa dứt, thì
trực thăng vào vùng. Rocket và
đại liên nã xuống những
luồng đạn lửa. Phòng không
của địch bắn lên. Ðạn
lửa vẽ lên bầu trời những
lằn đỏ đan chéo vào nhau.
Tôi thấy nhiều địch quân quay
lưng, chạy tháo lui. Họ không còn
cơ hội thoát thân nữa. Tất
cả đều ngã xuống trước
tầm hỏa lực từ phòng tuyến
bắn ra, trực thăng bắn xuống.
Ðối phương đang lo chống trả
với những con diều hâu hung dữ,
không còn áp đảo tiểu đoàn.
Súng phòng không hướng lên
trời. Hỏa tiễn AT3 nổ lùm bùm
trên không như pháo bông ngày
lễ. Ðã có hai chiếc trực
thăng trúng đạn phòng không,
chúi đầu xuống phía rừng
xa xa.
Từ máy truyền
tin, tôi nghe ông tiểu đoàn trưởng
điều động đại đội
đang nằm trong rừng, dàn quân
làm nút chặn, ngăn đường
rút lui của địch.
Từ giờ
phút ấy trở đi, truy địch
là nhiệm vụ của Không Quân. Nhiều
phi tuần phản lực lên vùng oanh
kích. Tôi nghe tiếng bom gầm càng
lúc càng xa dần, về phía biên
giới.
Sáng ra. Khi đang
bận rộn sắp xếp việc tải thương,
tôi chợt nghĩ đến thằng
Ngô tân binh. Ngó
quanh, không thấy.
Tôi hỏi tiểu đội phó của
nó: "Thằng Ngô đâu rồi?"
Tiểu đội phó
chỉ vào tấm poncho đậy tử
thi. Nó không chờ cái giấy
phép mà tôi đã hứa cho
về thăm nhà, sau khi rời khỏi
Sóc Con Trăng. Nó đi trước,
bằng con đường khác.
Mặt trời lên
cao. Những chuyến trực thăng tải
thương đã hoàn tất. Quang cảnh
trên đồi, trông điêu tàn
thê thảm. Công sự phòng thủ
bị phá vỡ nhiều nơi. Poncho,
nón sắt, quần áo vấy máu
còn bỏ rải rác, chẳng ai buồn
dọn dẹp. Người nào cũng
xác xơ tơi tả, mệt mỏi bơ
phờ.
Trời đứng
bóng, phái đoàn của những
ông lớn xuống Sóc Con Trăng,
thị sát chiến trường. Họ
mặc đồ nhà binh ủi hồ thẳng
nếp, mắt đeo kính râm, tay cầm
ba toong, đi dọc theo phòng tuyến. Họ
chỉ trỏ, bàn tán với nhau. Không
hỏi han hoặc nói chuyện với anh
em chúng tôi. Họ cho ông tiểu đoàn
trưởng biết, theo tin tình báo,
địch đem ba tiểu đoàn công
hãm Sóc Con Trăng. Giờ này,
biết điều đó cũng vô
ích. Tin tình báo, bao giờ cũng
là tin trễ. Các ông lớn rất
chú ý đến con số thương
vong của địch bỏ lại ngoài vòng
đai, và một số khác bỏ thây
trong rừng chưa kiểm được.
Còn tổn thất của tiểu đoàn,
họ không mấy quan tâm.
Lúc họ đi
khỏi, thì trực thăng "đại
lực sĩ ngựa trời" câu
hai chiếc xe ủi đất màu vàng,
đem đến Sóc Con Trăng. Một chiếc
ủi những cái hố dài, sát
bìa rừng. Chiếc khác, ủi xác
người hất xuống hố. Họ
rải lên xác một lớp bột
sát trùng màu trắng, và lấp
lại. Hai chiếc xe ủi chạy tới
chạy lui, nện bằng mặt đất. Thời
gian sẽ làm cỏ tranh mọc cao lên trên
những nấm mồ tập thể. Như
những cái nền nhà cũ của
một thời xa xăm, đã hoàn
toàn mất dấu.
Sớm mai. Ðứng
trên đồi nhìn ra bìa rừng.
Vẫn thấy sương mù kéo một
vệt dài trắng xóa, che khuất ngàn
cây. Mặt trời lên. Sương tan.
Cảnh vật hiện ra rõ nét. Một vạt
rừng bị cháy nám. Nhiều nơi
cây cối xác xơ gãy đổ.
Thiên nhiên bao giờ cũng im lìm,
và tự làm lành những vết
thương. Chỉ có con người, khi
đã mất mát thì không thể
nào tìm lại được sự
bù đắp.
Những ngày
sau trận đánh.
Chiều chiều. Ông
thượng sĩ già trung đội phó
Mai Chò Gãi thường đứng
bâng khuâng trên đồi Sóc Con
Trăng. Ông là người Nùng
Việt Bắc di cư.
Tôi hỏi: "Có
phải ông đang nhớ về rừng
núi Lai Châu?"
Ông cười
buồn, hỏi lại tôi câu khác:
"Thiếu úy tin con người có linh
hồn không?"
Tôi nói: "Tôi
tin."
"Tôi cũng tin thế.
Những chiếc nón sắt bỏ lại
của người ra đi, hình như
còn phảng phất linh hồn của anh em
vấn vương chiếc nón." Ông đưa
ngón tay chỉ. "Thử chú tâm nhìn
cái nón sắt lật ngửa, đằng
kia."
"Nhìn nó, tôi
nghĩ đến người ra đi."
"Không cảm nhận
được gì khác?"
"Không." Tôi lắc
đầu.
Ông bảo: "Tôi
có cảm giác rất mơ hồ rằng,
linh hồn anh em vẫn còn quanh đây,
trên ngọn đồi này."
Sau một hồi trầm
ngâm tư lự, ông nói: "Hồi
trẻ, tôi tưởng điều gì
cũng biết. Khi về già, thấy rằng
có những điều mình không
thể hiểu."
"Ông muốn nói
vấn đề gì nữa đây?"
"Bao nhiêu năm đi
lính, sát phạt đã nhiều. Những
người chưa từng quen biết,
không hề ân oán, vừa chạm
mặt là ra tay bắn giết nhau. Nghĩ
cũng lạ! Chẳng biết phía bên
kia, họ có thù mình không?"
Tôi nói: "Ông
thắc mắc những vấn đề
kỳ cục. Cứ hãy tưởng
tượng vào thời trung cổ,
người ta đưa hai tên giác
đấu lên đài. Với điều
kiện, sau trận đấu, chỉ còn một
tên được quyền sống sót.
Ðặt mình vào hoàn cảnh tên
giác đấu, ông phải làm sao?"
Thượng sĩ
Mai Chò Gãi khẳng định: "Giết
đối thủ."
"Ðấy. Những
thằng đi trận của cả hai phe, đều
ở vào cái thế của tên
giác đấu. Mình không giết
nó, nó giết mình. Ðâu cần
chi phải hận thù?"
Lâm Chương
|