Ði
tìm con cháu thuyền nhân 849 năm trước:
Nguyên
tổ hai giòng họ Lý tại Ðại-Hàn
Yên-tử
cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ
Ngày 17
tháng 9 năm 1957, Tổng-thống miền
Nam là Ngô Ðình Diệm công du
Ðại-hàn. (1). Năm sau, ngày 6 tháng
11 năm 1958, Tổng thống Ðại-hàn
dân quốc là Lý Thừa Vãn,
viếng thăm Việt-Nam. Trong dịp này
ông đã tuyên bố rằng tổ
tiên ông là người Viê.t.
Báo hồi ấy có tường
thuật sơ sàị Còn chính quyền
thì gần như không để ý
đến chi tiết lịch sử này.
Ghi chú: (1) Trong chuyến đi
này, Tổng-thống Ngô Ðình Diệm
cho một sĩ quan tháp tùng, mà người
ưu ái vì lòng yêu nước,
tin tưởng vì lòng trung thành
là Dương Văn Minh. Nhưng cũng tương
đương với ngày tháng này,
sáu năm sau, Dương Văn Minh tuân
lệnh Hoa-kỳ, giết chúa.
Bấy giờ, đệ
nhất Cô.ng-hòa thành lập chưa
quá hai năm, mới chỉ có viện
Khảo-cổ, không có cơ quan nghiên
cứu lịch sử. Cho nên không
ai nghĩ đến việc sang Ðại-hàn
tìm hiểu xem họ Lý từ Việt
Nam, đã di sang đây từ bao giờ?
Ai là nguyên tổ của họ?
Thời gian này tôi
mới 18 tuổi, vừa bước
chân vào đại ho.c. Nhưng nhờ
thấm nhuần Nho-giáo, nên đã
chững chạc lắm rồị Tôi
viết thư cho sứ quán Ðại-hàn
tại Viê.t-Nam để hỏi về chi tiết
này. Dĩ nhiên tôi viết bằng
chữ Nhọ Hơn tháng sau tôi được
thư trả lời của tộc Lý tại
Nam-hàn. Trong thư, họ cho tôi biết rằng:
"Tổng-thống Lý Thừa Vãn là
hậu duệ đời thứ 25 của
Kiến-bình vương Lý Long Tường.
Kiến Bình vương là con thứ
6 của vua Lý Anh-tông. Người cùng
tông tộc sang Cao-ly vào đầu thế
kỷ thứ 13 vì quốc nạn". Ánh
sáng đã mở ra trước
mắt tôị Nhưng tôi tra trong Ðại-Việt
sử ký toàn thư (ÐVSKTT), trong
Viê.t-sử lược (VSL), trong Khâm-Ðịnh
Viê.t-sử thông giám cương
mục (KÐVSTGCM), không bộ nào nói
đến Kiến Bình vương Lý
Long Tường cả.
Tò mò chưa được
thỏa mãn, nhưng tôi đành bỏ
qua, vì bấy giờ tôi phải dồn
hết tâm tư vào việc ho.c. Năm
1959, trong khi lục lọi tại thư viện Paris,
vô tình tôi đọc được
Tâ.p-san sử địa của Nhâ.t-bản,
số 2 năm 1941, trong đó nói vắn
tắt rằng: "Năm Bính Tuất, 1226, bấy
giờ là niên hiệu Kiến-trung
thứ nhì đời vua Thái-tôn
nhà Trần. Biết mình là con thứ
sáu vua Lý Anh-tông, lại đang giữ
chức đô đốc, tư lệnh
hải quân, trước sau gì cũng
bị Trần Thủ Ðộ hãm hại,
nên ông đã đem tướng
sĩ dưới quyền, tông tộc,
cùng hạm đội ra đi, sau đó
trôi dạt vào Cao-ly".
Tôi tự hẹn, sau này
có tiền sẽ sang Ðại-hàn tìm
hiểu chi tiết này.
Thế nhưng, sau khi ra trường,
1964, tuy đã có chỗ đứng
vững chắc về phương diện
tài chánh. Ngặt vì nghề sinh nhai
lối dọc đường ngang, tôi
vẫn không thực hiện được
cái ước vọng sang Hàn quốc,
tìm hiểu về nguồn gốc họ Lý
tại đây.
Mãi tới năm 1980,
tháng 8, tôi đi trong phái đoàn
Pháp, sang dự đại hội y khoa tại
Hàng-châu Trung-quốc. Ở đại
hội, tôi được tiếp xúc
với phái đoàn Bắc-hàn.
Phái đoàn này có bác sĩ
Lý Chiếu Minh ở Hùng-xuyên
(Hunchon) và bác sĩ Lý Diệp Oanh ở
Thuâ.n-xuyên (Sunchon). Bấy giờ tôi
đã 41 tuổi, còn Diệp Oanh mới
30 tuổi. Tuy là bác sĩ, thế nhưng
cô tươi như hoa lan, phơi phới
như hoa thủy tiên ban mả. Thấy mỗi
bữa ăn cô lẩm nhẩm đọc
kinh mà không làm dấu thánh giá,
tôi cho là cô đọc kinh Phâ.t.
Trêu cô tôi cũng đọc kinh Bát-nhã
bằng tiếng Viê.t. Cô hỏi tôi:
- Ủa! Anh đọc kinh cảm
ơn Tổng-thống Valéry Giscard đấy
à?
- Không! Tôi đọc kinh
Phật. Thế cô đọc kinh gì vậy?
- Phật đâu có cho
anh cơm ăn, áo mặc ?
- Vậy cô đọc kinh gì
?
- Tôi đọc kinh cảm
ơn cha già Kim Nhật -Thành đã
cho chúng tôi đươc tự do, có
cơm ăn, áo mặc! (2)
Ghi chú (2) Tại Bắc-Hàn,
thịnh thời của Chủ-tịch Kim Nhật
Thành, để tỏ lòng tôn kính
lãnh tụ; toàn quốc, khi ăn cơm,
sáng dậy, tối đi ngủ đều
đọc kinh tạ ơn Kim chủ tịch. Nghe
cô nói, tôi hơi ngạc nhiên, nhưng
tôi biết đó là niềm tin của
cô, tôi không dám đùa, không
thắc mắc. Song thấy cô xinh đẹp,
tôi tỏ một cái gì cho có vẻ
nịnh đầm, theo thói thông thường
của y giới Pháp:
"Ở nước tôi,
vào thế kỷ thứ 12, dưới
triều vua Lý Anh-tông, tổ tiên tôi
là Trần Thủ Huy được gả
công chúa Ðoan Nghi...". (3)
Ghi chú (3) Theo gia phả của
con cháu Chiêu-quốc vương Trần
Ích Tắc tại Trường-sa Trung-quốc,
thì một tướng triều Lý
Anh-tông là Trần Thủ Huy được
giả công chúa Lý Ðoan Nghi, con vua
Anh-tông. Thái-sư Trần Thủ Ðộ
của triều Trần là con của Phò-mã
Thủ-Huy và Công-chúa Ðoan-Nghi.
Diệp Oanh cắt lời:"
Sang đầu thế kỷ thứ 13, cũng
tổ tiên anh là Trần Liễu được
gả công chúa Thuận Thiên, Trần
Cảnh được vua Chiêu Hoàng
tuyển làm chồng. Rồi tổ tiên
anh xua đuổi, nên tổ tiên tôi
thành thuyền nhân, ngày nay Hàn
quốc mới có họ Lý".
À! Vạn lý tha hương
ngộ tri kỷ đây. Biết rất rõ
Diệp Oanh là con cháu của Kiến Bình
vương Lý Long Tường, tôi đùa
thêm:
"Biết đâu cô không
là công chúa Ðoan Nghi, tôi không
là Trần Thủ Huy tái đầu thai!
Có lẽ chúng mình nên đi tiếp
con đường tổ tiên mình đã
đi".
Diệp Oanh vã tôi một
cái vào má trái, tỏ cử
chỉ thân thiê.n. Song chúng tôi bắt
con tim ngừng phiêu lưu ở đây,
vì bấy giờ bà vợ tôi
còn sống, còn quá trẻ; vợ
chồng lại rất tương đắc
ngoài đời, nồng thắm trong
phòng the. Thế rồi chúng tôi nhận
họ. Ðặc biệt là trong lúc đối
thoại, Chiếu Minh với Diệp Oanh cứ
tự hào cái gốc Việt của
mình. Suốt đại hội, tôi với
Chiếu Minh, Diệp Oanh gần nhau như bóng
với hình. Tôi kể cho hai người
nghe về những trang sử rực
hào quang dưới thời Lý,
nhất là huyền sử về Linh Nhân
hoàng thái hậu (Ỷ Lan).
Sau đại hội, Chiếu
Minh, Diệp Oanh rủ tôi du lịch Bắc-Hàn.
Bấy giờ là thịnh thời
của chủ tịch Kim Nhật Thành, Bắc-Hàn
khép kín cánh cửa với
thế giới bên ngoàị Tuy nhiên
nhờ mang thông hành Pháp, nên
tòa đại sứ Bắc-Hàn ở
Bắc-kinh cho tôi cái chiếu khán
được du lịch nghiên cứu
về nhân sâm trong 8 ngày. Tới
Bắc-Hàn, ông đại sứ Pháp
tưởng tôi đi nghiên cứu
nhân sâm thực. Ông lệnh cho văn
phòng tùy viên văn hóa giúp
đỡ tôi. Tôi tự biết
mình có địa vị, có danh dự,
không muốn nói dối ông đại
sứ. Tôi thú thật là đi
tìm một số tài liệu lịch sử
của tổ tiên tôi về thế kỷ
thứ 12. Dù biết tôi mượn
danh đi nghiên cứu y khoa, mà Ủy-ban
y học Pháp- Hoa (Commité Médical Franco-Chinois
viết tắt là CMFC) dư thừa tài
chánh đài thọ tất cả phí
tổn cho tôi. Thế nhưng sứ quán
Pháp vẫn giúp đỡ tôi
tận tình. Nào cung cấp xe, cung cấp
tài xế, gửi thư giới thiê.u.v.v.
Kể ra làm công việc nghiên cứu
của Pháp cũng sướng thư.c.
Xin cảm ơn tinh thần yêu văn hóa
của nước Pháp.
Tại Hùng-xuyên, cũng
như Thuâ.n-xuyên, các chi họ Lý
tiếp đón tôi rất niềm nở.
Buồn là các cuộc đàm thoại
bị giới hạn khá nhiều, tôi
phải uốn cong lưỡi dùng tiếng
Quan-thoại nói với Chiếu Minh và
Diệp Oanh. Hai vị này dịch sang tiếng
Ðại-hàn. Các chi họ Lý xin phép
chính quyền, rồi tổ chức những
buổi hội, để nghe tôi nói chuyện
về thời đại Tiêu-sơn tức
thời Lý. Khi nghe kể đến đoạn
công chúa Bảo Hòa tu tiên, cho đến
tuổi 90 vẫn trẻ như hồi 17 tuổi,
cử toạ suýt xoa sung sướng.
Lại khi nghe tôi thuật giai thoại vua Lý
Thánh-tông, đang đêm trốn khỏi
hoàng cung, gặp cô thôn nữ Yến
Loan, rồi sau đưa về cung phong làm
Ỷ Lan phu nhân; cử tọa vỗ tay hết
tràng này đến tràng khác.
Khi nghe tôi kể đến các công
chúa Bình Dương, Kim Thành, Trường
Ninh trấn ngự biên cương khiến
các quan Tống ở Nam-biên nghe đến
tên đều kinh hồn vỡ mật.
Các cô ngửa mặt lên nhìn
trần nhà cười đầy vẻ
hãnh diện. Lúc mà tôi thuật
đến đoạn Quách Quỳ, Triệu
Tiết đem đại quân phá vỡ
phòng tuyến Như-nguyệt (1076), tiến
đến rừng tre, cách Thăng-long
có 25 cây số... Trong phòng có đến
hơn 700 người, mà không một
tiếng động. Rồi tôi kể tiếp:
Công chúa Thiên Ninh đánh bật
quân Tống trở về Như-nguyệt,
thì phòng hội hoan hô đến muốn
rung động thành phố. Tôi thuật
tiếp đến đoạn công chúa
tuẫn quốc, thì cả phòng hội
đều khóc nức nở. Những
người khóc nhiều nhất lại
là những thiếu niên.
Ðền thờ Linh-Nhân
hoàng thái hậu (Ỷ-Lan) ở xã
Dương-xá, huyện Gia-lâm, Hà-nô.i.
Ðây là 1 trong 9 đền thờ
ngài, vẫn còn tồn ta.i. Hầu hết
những chi họ Lý đều đem
gia phả ra hỏi tôi những chi tiết
mà họ không hiểu. Tất cả gia
phả đều viết bằng chữ
Nho. Như gia phả của chi Thuận-xuyên, có
đôi câu đối: Thập-bát
anh hùng giai Phù Ð ổng, Tam thiên
nữ kiệt tỷ Mê-linh.
(Mười tám anh hùng
đều như Phù Ðổng thiên
vương. Ba nghìn nữ kiệt đều
có thể sánh với Trưng-vương).
Tôi phải moi trí nhớ,
để đọc cho họ chép lại tiểu
sử 18 danh tướng vào thời
vua Lý Nhân-tông, kháng Tống tuẫn
quốc. Tôi lại phải thuật cho họ
nghe về công chúa Thiên Ninh (Bà
chúa kho) có 3 nghìn nữ binh. Khi Quách
Quỳ, Triệu Tiết mang quân sang Ðại-Việt,
phá vỡ phòng tuyến Như-nguyệt
tiến về Thăng-long. Quân Tống nhập
vào phòng đai phòng thủ chỉ
cách Thăng-long có 25 cây số, bị
công chúa đánh bật trở
về Bắc sông Như-nguyê.t. Sau đó
công chúa cùng 3 nghìn nữ kiệt
đều tuẫn quốc. (4)
Ghi chú (4) 18 anh hùng đánh
Tống, kháng Tống thời Lý,
trong sử không ghi, nhưng tôi đã
tìm ra tên, và đền thờ,
nhờ tài liệu rải rác trong các
thư tịch Trung-quốc, đó là
1. Lý Hoằng Chân,
2. Lý Chiêu Văn,
3. Bùi Hoàng Quan,
4. Dư Phi,
5. Nguyễn Căn,
6. Hoàng Kiện,
7. Phạm Dật,
8. Vũ Quang,
9. Ðinh Hoàng Nghi,
10. Lý Ðoan,
11. Trần Ninh,
12. Trần Di,
13. Dương Minh,
14. Triệu Thu,
15. Mai Cầm,
16. Quách Y,
17. Ngô Ức,
18.Ta. Duỵ
(Xin đọc hành trạng
của các ngài trong bộ Nam-quốc sơn
hà của Trần Ðại Sỹ, do Ðại-Nam
Hoa Kỳ ấn hành).
Hầu hết các chi, khi
nghe tôi nói rằng: Triều Trần kế
tục triều Lý. Nhưng các vua triều
Trần đều dành ra một số ruộng
đất lớn, cho tá điền
cầy cấy, thu tô để làm phương
tiện hương khói, thờ cúng,
tu bổ lăng tẩm 9 đời vua triều
Lý... đều hài lòng. Các
triều đại kế tiếp như Lê,
Nguyễn vẫn giữ nguyên truyền
thống này. Mãi đến năm 1956,
trong cuộc cải cách ruộng đất,
những ruộng đất này mới
bị lấy lại lập hợp tác xã.
Tuy nhiên đây là những di tích
lịch sử, nên kể từ năm
1962, bộ Văn-hóa của nước
Viê.t-Nam dân chủ cộng hòa (Bắc
Viê.t-Nam) đã ban nghị định
công nhận là di tích văn hóa,
lịch sử, và cử cán bộ
bảo quản rất kỹ. Cổng trong đền
thờ Bà chúa kho (Công chúa
Thiên-Ninh) tại Thi.-cầu Bắc-ninh. Sau cổng
trong tới tiền đình đền
thờ Bà chúa kho
Ghi chú,
Triều Lý có 8 vị
vua, nhưng tôi vẫn coi Lý Chiêu-Hoàng
là vị vua thứ 9, chứ không
dám coi thường Ngài. Bác-sĩ
Diệp Oanh dẫn tôi thăm những vùng
đất linh của giòng họ Lý. Thực
là kỳ điệu, dưới chế
độ Bắc-Hàn chủ trương hủy
diệt tất cả những gì là
văn minh của tổ tiên, để chỉ
còn biết đến cha già dân
tộc Kim Nhật Thành. Thế nhưng giòng
họ Lý vẫn giữ gìn được
những di tích của tổ tiên. Nào
cửa biển Phú-lương giang nơi
hạm đội của Kiến- bình vương
cập bến Cao-ly, nào Ung-tân, nơi đầu
tiên họ Lý làm nhà ở,
nào ngọn đồi Julhang thuộc xã
Ðỗ-môn (Tô-mơ-ki) nơi có
lăng của Kiến Bình vương Lý
Long Tường. Tôi cũng được
lên Quảng-Ðại sơn thăm Vo.ng-quốc
đài, là nơi vương lên nhìn
về quê hương. Sau đó, với
quyết tâm tìm lại dấu vết người
xưa, năm 1983, tôi lên đường
đi Nam-hàn để tìm hiểu thêm
về giòng họ Lý. Tiếc rằng
hạm đội của Lý Long Tường
tới Hàn-quốc táp vào miền
Bắc, vì vậy dường như tại
Nam-hàn không có một chút di tích
nào của ông. Giòng họ Lý sống
tại Nam-hàn rất ít, tổng số
chưa quá nghìn hộ, nhưng họ đều
là những người kiệt hiệt
trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật,
thương mại, kỹ nghệ. Về tình
cảm, họ cũng giống như người
Bắc hồi 1954 di cư vào Nam, mang theo rất
ít di vật, gia phả về tổ tiên
mình. Không nhà nào mang được
gia phả cổ. Gia phả mà họ cho tôi
xem, hầu hết là mới chép
gần đây. Nội dung lại quá nhiều
sai la.c. Như chép về việc ra đi của
Kiến Bình vương, gia phả nói rằng
họ Lý bị Trần Thủ Ðộ cướp
ngôi, Lý Long Tường cầm quân
chống lại, bị thua. Về Lý Chiêu
Hoàng, họ chép là hoàng hậu
của vua Lý Huê.-tông! (5)
Ghi chú (5) Sau đó tôi
đã giúp họ hiệu đính lại
những chỗ sai lầm trong gia phả của
họ..
Dòng thứ nhất:
Hậu duệ Kiến Hải vương,
hay họ Lý Tinh-thiê.n. Thế nhưng, tại
Nam-hàn tôi gặp ông Lý Gia Trung. Ông
cho biết, tổ tiên ông là người
Việt, nhưng không thuộc giòng dõi
Kiến Bình vương. Tổ tiên ông
là Kiến Hải vương Lý Dương
Côn, đã đến Cao-ly hồi đầu
thế kỷ thứ mười một.
Quý độc giả có biết tâm
trạng tôi bấy giờ ra sao không?
Kinh ngạc, bàng hoàng, đờ đẫn
cả người ra, trong khi chân tay run run.
Vì trong khi nghiên cứu về triều
Lý, tôi biết một huyền sử
vắn tắt như sau:
"Vua Lý Nhân-tông không
có hoàng nam, người nhận con của
các thân vương trong hoàng tộc
làm con nuôi. Năm Ðinh Dậu (1117) nhận
con của hầu Sùng Hiền, Thành Khánh,
Thành Quảng, Thành Chiêu, Thành Hưng
làm con nuôi. Sau truyền ngôi cho con của
Sùng Hiền hầu là Lý Dương
Hoán, tức vua Lý Thần-tông.
Khi Lý Thần-tông băng, Thái-tử
Thiên-tộ còn bế ngửa, triều
thần muốn tôn con của Thành Quảng
hầu là Lý Dương Côn lên
nối ngôi. Cuộc tranh quyền trong giòng
họ Lý diễn ra, sau vợ của vua
Lý Thần-tông nhờ có tình
nhân là Ðỗ Anh Vũ giúp đỡ,
mà loại hết các địch thủ.
Năm Canh Ngọ (1150) nhân vụ chính biến,
Cảm Thánh thái hậu mưu với
tình nhân Ðỗ Anh Vũ giết hết
tông tộc của các hầu Thành
Khánh, Thành Chiêu, Thành Hưng. Bấy
giờ con Thành Quảng hầu là
Kiến Hải vương Lý Dương Côn
đang là đô đốc Thủy-quân,
bèn đem gia thuộc xuống chiến thuyền
lưu vong. Song không biết đi đâu
(1150) ".
Bây giờ, sau 831 năm,
tôi gặp lại hậu duệ của Kiến
Hải vương. Tâm tư rúng động
! Hỡi ơi ! Tại Hàn-quốc có
tới hai giòng họ Lý, gốc là
thuyền nhân Ðại-Viê.t. Tôi ghi
chú tất cả những gì mà
giòng họ Lý của Kiến Hải vương
cung cấp để khi viết về thời
đại Tiêu-sơn còn có thêm
tài liê.u. Cuối năm 1996, một nhà
nghiên cứu tộc phả nổi tiếng
của Nam-hàn là giáo sư Phiến
Hoằng Cơ (Pyon Hong Ke) công bố kết
quả cuộc nghiên cứu của ông
rằng ông đã phát hiện một
giòng họ Lý thứ nhì, tại
Ðại-hàn, được gọi là
Lý Tinh-thiê.n. Giòng họ này, chính
là giòng họ Lý, con cháu Kiến
Hải vương mà tôi đã có
cơ duyên gặp hậu duệ là ông
Lý Gia Trung. Giáo sư Phiến Hoằng
Cơ cho biết, căn cứ vào gia phả
của giòng họ này mang tên Tinh-thiện
Lý thị tộc phả, được
lưu trữ tại thư viện Quốc-gia
Hán-thành, thì ông tổ của giòng
họ Lý Tinh-thiện là Lý Dương
Côn (Lee Yang Kon) tới Ðại-hàn
vào đầu thế kỷ thứ 12:
"Lý Dương Côn hiệu
là Nguyên Minh, hoàng tử thứ
ba con vua Càn Ðức, được
Tống triều phong tước Nam-bình
vương". Tra trong sử Việt, thì vua
Càn Ðức chính là tên
của vua Lý Nhân-tông. Vua Lý Nhân-tông
là con của vua Lý Thánh-tông với
Ỷ-Lan phu nhân, sau được tôn
là Linh- Nhân hoàng thái hậu. Người
chỉ đạo cuộc đánh Tống,
kháng Tống lừng danh lịch s ử
Viê.t-Nam. Theo ÐVSKTT, Lý kỷ, Nhân-tông
kỷ thì: "Niên hiệu Hội -tường
Ðại-khánh thứ 8 DL.1117, Ðinh
Dậu)... ...Tìm con trai trong tôn thất để
nuôi trong cung. Xuống chiếu rằng: Trẫm
cai trị muôn dân mà lâu không
có hoàng nam, ngôi báu của thiên
hạ biết truyền cho ai? Nên trẫm nuôi
con của các hầu Sùng Hiền, Thành
Khánh, Thành Quảng, Thành Chiêu,
Thành Hưng, chọn người giỏi
lập làm thái tử. Bấy giờ
con Sùng Hiền hầu là Dương Hoán,
lanh lợi, vua rất yêu, bèn lập
làm Thái-tử". Vậy thì Lý
Dương Côn là con nuôi của vua Lý
Nhân-tông, chứ không phải con
đẻ. Con nuôi thứ ba, thì là
con của Thành Quảng hầu. Lý Dương
Côn, được phong tước
Kiến Hải vương. Giáo-sư Phiến
Hoằng Cơ dựa theo Tinh-thiện Lý
thị tộc phả và bộ Cao-ly sử,
ông công bố:
" Hậu đuệ đời
thứ sáu của Lý Dương Côn
là Lý Nghĩa Mẫn (Lee Unimin) trở
thành nhân vật kiệt hiệt trong lịch
sử. Bấy giờ Cao-ly đang ở
dưới triều đại vua Nghi.-tông
(Ui-jiong 1146-1170). Nhà vua rất sủng ái
Lý Nghĩa Mẫn, phong cho chức Biê.t-trưởng.
Nước Cao-ly trong thời
gian này, phải chống trả với
cuộc xâm lăng của Khiết-Ðan tức
Ðại- liêu, nên các võ tướng
nắm hầu hết quyền hành. Năm
1170 tướng Trịnh Trọng Phu (Jeong Jung-bu)
chưởng môn một võ phái,
đảo chính vua Nghi.-tông lập vua Minh-tông
(Mycong 1170-1179). Trọng Phu bị các võ phái,
võ tướng nổi lên chống
đốị Lý Nghĩa Mẫn là
người phụ tá đắc lực
cho Trịnh Trọng Phu, đem quân dẹp các
cuộc nổi dậy. Ông được
thăng chức Trung-lang tướng, rồi
dần dần thăng Tướng-quân,
Ðại-tướng quân (1173), Thươ.ng-tướng
quân (1174), cuối cùng là Tây Bắc
bộ binh mã sứ (1178) (Tức Tư-lệnh
quân lực miền Bắc Cao-ly).
Năm 1179, một võ quan khác
là Khánh Ðại Thăng (Kyung Dae-Seung)
làm cuộc chính biến, giết chết
Trịnh Trọng Phu, lên nắm quyền. Bấy
giờ Lý Nghĩa Mẫn giữ
chức Hình-bộ thượng thư
(1181) (Bộ trưởng Tư-pháp). Vì
ông thuộc phe Trịnh Trọng Phu, nên bị
nghi ngờ, chèn ép. Ông cáo
quan về hưu. Sau khi Khánh Ðại Thăng
chết, vua Minh-tông mời Lý Nghĩa
Mẫn vào bệ kiến, được
trao chức Tư-không, Tả-bộc xạ,
Ðồng-trung thư môn hạ bình chương
sự tức Tể- tướng trong
14 năm (1183-1196). Năm 1196, một phe võ tướng
do Thôi Chung Hiếu (Cho Chung Heon) cầm đầu
làm cuộc đảo chính, giết LýNghĩa
Mẫn. Ba con ông là Lý Chính Thuần,
Lý Chí Vinh, Lý Chí Quang đều
là tướng cầm quân, cũng
bị giết chết. Quân phiến loạn
chỉ tha cho người con gái ông là
Lý Hiền Bật. Giòng họ Lý Tinh-thiện
tưởng đâu tuyệt t ự. Nhưng
may mắn thay, giòng họ này còn kế
tục là nhờ người anh Lý
Nghĩa Mẫn và các con không bị
hại.
Phối hợp chính sử
với gia phả, giáo sư Phiến Hoằng
Cơ kết luận rằng:
Giòng họ Lý tại Tinh-thiện
thuộc đạo Giang-nguyên, phía Ðông
Nam Ðại-hàn ngày nay là con của
hoàng tử Lý Dương Côn thuộc
triều Lý, Viê.t-Nam (1010-1225). Lý Dương
Côn bỏ quê hương ra đi vì
sự đe dọa của nước Kim
đối với Tống, năm 1115. Tới
năm 1127 thì Bắc Tống bị diệt
".
Qua cuộc nghiên cứu
của Phiến Hoằng Cơ, tôi thấy
có đôi chút nghi vấn: Một là,
vua Lý Nhân-tông nhận con nuôi năm
1117. Vua Thần-tông sinh năm 1116, vậy thì
Lý Dương Côn chỉ có thể
sinh năm 1116 hay 1117 mà thôi. Năm Lý
Dương Côn rời Ðại-Việt
ra đi là năm 1150. Bấy giờ
ông mới 32-33 tuổị Thế nhưng
gia phả Lý Tinh-thiện nói rằng năm
1170 Lý Nghĩa Mẫn, hậu duệ đời
thứ sáu của Lý Dương Côn,
được vua Nghi.-tông phong cho chức
Biệt-trưởng. Ðây là điều
vô lý. Bởi năm đó chính
Lý Dương Côn có còn tại
thế thì ông mới có 54 tuổi,
làm sao ông đã có cháu 6
đời? Tôi thì tôi cho rằng
Lý Nghĩa Mẫn là con Lý Dương
Côn. Còn hậu duệ đời thứ
sáu là kể từ vua Lý Thái-tổ:
1. Lý Thái-tổ. 2. Lý Thái-tông.
3. Lý Thánh-tông. 4. Lý Nhân-tông.
5. Kiến Hải vương Lý Dương
Côn. 6. Lý Nghĩa Mẫn. Hai là, trong
gia phả Lý Tinh-thiện nói rằng, Lý
Dương Côn rời quê hương
ra đi vì quốc na.n. Giáo-sư Phiến
Hoằng Cơ cho rằng vì sự đe
dọa của Kim. Có lẽ khi giải đoán
việc ra đi của Lý Dương Côn,
ông đã bị ảnh hưởng
bởi sử Cao-ly. Vì hồiấy,
nước Kim đang từ một bộ
lạc Nữ-chân, nổi lên diệt
nước Liêu, rồi đem quân
đánh Tống. Sau đó, họ bắt
vua Tống mang về Bắc. Nhưng con cháu
nhà Tống lại tái lập triều
Nam-Tống. Khoảng cách Kim với Ðại-Việt
còn một nước Tống quá
rộng, quá xa. Dù Kim hùng mạnh cũng
không ảnh hưởng gì tơí
Ðại-Việt khiến Lý Dương Côn
phải bỏ nước trốn đi. Nhất
là giai đoạn 1161 đến 1174, bấy
giờ binh lực Ðại-Việt đang
mạnh, muốn hướng lên Bắc
tái chiếm lại Quảng Ðông, Quảng
Tây!
(xin đọc Anh-hùng Ðông-A
dựng cờ Bình-Mông của Trần
Ðại Sỹ, hồi 4 và hồi 16-17-18).
Lần lại trang sử Ðại-Việt
thời đó: Vua Thần-tông được
vua Nhân-tông đem vào cung nuôi cùng
4 người anh em họ. Nhưng ngài được
lập làm Thái-tử, rồi lên
ngôi vua. Theo Hội-Ðiển sự lệ
triều Lý thì những chức
như: Thái-úy, tương đương
với ngày nay là Tổng Tư-lệnh
quân đô.i. Tổng-lĩnh Thiên-tử
binh, tương đương với ngày
nay là Tư-lệnh lục quân. Ðại
Ðô-Ðốc Thủy quân, tương
đương với ngày nay là Tư-lệnh
thủy quân. Các chức này luôn
trao cho các hoàng đệ. Vì vậy
trong 5 con nuôi của vua Lý Nhân-tông,
thì Thái-tử Dương Hoán đươc
truyền ngôi, còn 4 con nuôi khác,
là con của các hầu Thành Khánh,
Thành Quảng, Thành Chiêu, Thành Hưng
ắt được phong vào các chức
trên. Con của Thành Quảng hầu là
Lý Dương Côn được phong
tước Kiến Hải vương, lĩnh
chức Ðại Ðô-Ðốc
Thủy-quân. Khi vua Thần-tông băng (1138),
Thái-tử Thiên-tộ mới có
2 tuổi, triều thần muốn tôn hoàng
đệ Lý Dương Côn lên ngôi
vua, vì ông là người thông
minh, tài trí, đang là Ðại Ðô-Ðốc,
ở tuổi 22. Nhưng rồi mẹ của
Thái-tử Thiên-tộ là Cảm
Thánh hoàng hậu đã dùng vàng
bạc đút lót cho các quan, bà
lại được tình nhân Ðỗ
Anh Vũ là em của Chiêu Hiếu thái
hậu, (mẹ vua Thần-tông) hết sức
ủng hô.. Thiên-tộ lên ngôi vua,
sau là vua Anh-tông. Dĩ nhiên vua Anh-tông
lên ngôi, khi còn bế ngửa, thì
mẹ là Cảm Thánh thái hậu thính
chính, nói khác đi là làm
vua. Bà phải diệt hết những mầm
mống có thể nguy hiểm cho con bà.
Bà cùng Ðỗ Anh Vũ vu cáo,
giết hết các em nuôi của vua Thần-tông
là con của các hầu em vua Nhân-tông.
Toàn gia các hầu, từ thê thiếp,
con, cháu, thân binh, nô bộc đều
bị giết sạch. Riêng Lý Dương
Côn đóng quân ở Ðồn-sơn,
được mật báọ Ông đem
hết gia thuộc, xuống chiến thuyền,
bỏ quê hương ra đi, rồi táp
vào Cao-lỵ Tôi kết luận : Dù
Lý Nghĩa Mẫn là cháu 6 đời
của Kiến Hải vương Lý Dương
Côn hay là cháu 6 đời vua Lý
Thái-tổ, thì ta vẫn kết luận
rằng : Năm 1150, Kiến Hải vương
Lý Dương Côn, lĩnh chức Ðại
Ðô-Ðốc đã cùng tông
tộc dùng thuyền tỵ nạn tại Cao-ly.
Ðời sau có nhân vật kiệt
hiệt là Lý Nghĩa Mẫn, đóng
một vai trò trọng yếu trong lịch sử
Cao-ly. Giòng họ Lý này, nay vẫn
còn truyền tử lưu tôn tại
Ðại-hàn.
Giòng thứ nhì,
Hậu duệ của Kiến-bình
vương Lý Long Tường, còn
gọi là Lý Hoa-sơn.
Giòng họ Lý thứ
nhì tới Ðại-hàn sau giòng
họ Lý Tinh-thiện 76 năm, là hậu
duệ của Kiến Bình vương Lý
Long Tường, con thứ 7 của vua Lý
Anh-tông. Mà tôi đã trình bầy
ở trên. Theo Trần-tộc vạn thế
ngọc phả, của chi bốn, thuộc giòng
dõi Chiêu-quốc vương Trần Ích
Tắc, để tại nhà từ ở
thị xã Lãnh-thủy, huyện Chiêu
đương, tỉnh Hồ Nam, Trung-quốc;
phần chép về Ninh-tổ hoàng đế
Trần Lý. Có đoạn nói về
các con vua Lý Anh-tông, nguyên văn
như sau :
Vua có bẩy hoàng tử.
Hoàng trưởng tử Long Xưởng
do Chiêu Linh hoàng hậu sinh vào niên
hiệu Ðại Ðịnh thứ 12 (DL.1151,
Tân-Mùi). Ðược phong tước
Hiển Trung vương, lập làm Thái-
tử. Niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo
nguyên nhiên (DL.1174, Giáp-Ngọ) bị
giáng xuống làm con út, tước
Bảo Quốc vương. Niên hiệu Trinh
Phù thứ sáu (DL.1181, Tân-Sửu)
làm phản, bị hạ ngục, rồi bị
Ðỗ An Di giết cả nhà, thọ 31
tuổi. Hoàng-tử thứ nhì Long
Minh do Thần-phi Bùi Chiêu Dương sinh
vào niên hiệu Ðại Ðịnh
thứ 11 (DL. 1152, Nhâm-Thân). Tước
phong Kiểm-hiệu Thái-sư, Thươ.ng-tru.
quốc, Khai-phủ nghị đồng tam tư,
Trung-vũ quân tiết độ sứ,
lĩnh Ðại đô-Ðốc, Kiến
Ninh vương. Bị giết niên hiệu Thiên-cảm
Chí-bảo thứ nhì (DL.1175.). Thọ
24 tuổi. Hoàng-tử thứ ba Long Ðức,
cũng do Bùi Thần-phi sinh niên hiệu
Ðại Ðịnh thứ 12 (DL.1153, QuýÐậu).
Chức tước phong như sau:
Dao-thụ Thái-bảo, Khu-mật
viện sứ, Thươ.ng-thư tả bộc
xạ, Phu.-quốc thượng tướng
quân, Long-thành tiết độ sứ,
Kiến An vương. Bị giết niên hiệu
Thiên-cảm Chí-bảo thứ nhì
(1175), thọ 23 tuổị Hoàng-tử thứ
tư Long Hòa do Quý-phi Hoàng Ngân Hoa
sinh niên hiệu Ðại Ðịnh thứ
11 (DL.1152, Nhâm-Thân). Chức tước
phong như sau: Ðặc tiến Thiếu-sư,
Khu- mật viện sứ, Thươ.ng-thư
tả thừa, Trấn Nam tiết độ
sứ, Thươ.ng-thư lệnh, Tả kim
ngô thượng tướng, Tổng-lĩnh
Thiên-tử binh, Kiến Tĩnh vương.
Bị giết niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo
thứ nhì (1175) thọ 24 tuổị Hoàng-tử
thứ năm Long Ích, do Ðức-phi
Ðỗ Kim Hằng sinh niên hiệu Chính-long
Bảo-ứng thứ 5 (DL.1167, Ðinh-Hợi).
Chức tước phong như sau:
Dao-thụ Thái-phó, trấn
Nam tiết độ sứ, Thươ.ng-thư
tả thừa, Kiến Khang vương. Hoăng
niên hiệu Kiến-gia thứ 2 (DL.1212 Nhâm-Thân),
thọ 46 tuổị Hoàng-tử thứ
sáu Long Trát, do Thu.c-phi Ðỗ Thụy
Châu sinh niên hiệu Chính-long Bảo-ứng
thứ 11 (DL.1172, Nhâm-Thìn), tháng 5,
ngày 25, niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo
nguyên niên được lập làm
Thái-tử. Năm thứ nhì được
truyền ngôi tức vua Lý Cao-tông.
Băng niên hiệu Tri.-bình Long-ứng
thứ 6 (DL.1210, Canh-Ngọ), ngày 28 tháng
10, thọ 38 tuổị Hoàng-tử thứ
bảy Long Tường do Hiền-phi Lê
Mỹ Nga, sinh vào niên hiệu Chính-long
Bảo-ứng thứ 12 (DL.1174, Giáp-Ngọ).
Ðức Thái-tông nhà ta (tức
Trần Cảnh) phong chức tước
phong như sau:
Thái-sư Thương-trụ
quốc, Khai-phủ nghị đồng tam tư,
Thươ.ng-thư tả bộc xạ, lĩnh đại
đô đốc, tước Kiến
Bình vương. Niên hiệu Kiến-trung
thứ nhì đời đức
Thái-tông nhà ta (tức Trần
Cảnh), tháng tám, ngày rằm, vương
cùng gia thuộc hơn 6 ngàn người
bôn xuất. So sánh giữa Tộc phả
Hoa-sơn và Trần tộc vạn thế ngọc
phả, có một chi tiết khác nhaụ
Tộc phả Kiến Bình thì chép Kiến
Bình vương là con thứ sáu
vua Anh-tông. Trong khi Trần tộc vạn thế
ngọc phả lại chép vương là
con thứ bẩỵ Vì sao ? Phả Trần
tộc chép theo huyết tộc, ai sinh trước
là anh, ai sinh sau là em. Vì vậy Kiến
Bình vương là con thứ 7. Phả
Kiến Bình thì chép thứ tự
theo chỉ dụ của vua Lý Anh tông, Long
Xưởng bị giáng xuống làm
con út, thì Long Tường trở
thành con thứ sáu. Hồi đó
Lý Long Tường dẫn tông tộc
rời Ðại-Việt ra đị Trần
triều không biết đi đâụ
Nay chúng ta mới được biết
vương với hạm đội bị
bão phải ẩn ở một đảo
lớn (Ðài- loan ?) Nghỉ ít lâu,
hạm đội của vương lại tiếp
tục lên đường rồi dạt
vào Cao-lỵ Duy một người con của
vương tên Lý Long Hiền cùng gia
thuộc hơn hai trăm người ở
lại đảo. Vương là khai tổ
của giòng họ Lý tại Ðại-hàn,
thế tử Long Hiền là khai tổ
của giòng họ Lý tại Ðài-loan
hiện nay ? Sự kiện này tôi sẽ
đi Ðài-loan tìm hiểu sau.
Tôi đã bỏ công
sang Bắc cũng như Nam-hàn, tìm các
chi, hậu duệ của Kiến Bình vương
Lý Long Tường, khảo gia phả của
ho.. Phần chi tiết tuy có sự khác
biệt, nhưng đại lược vẫn
giống nhaụ Tổng-thống Lý Thừa
Vãn của Ðại-hàn là hậu
duệ đời thứ 25 của Kiến
Bình vương Long Tường. Còn
tổng thống Lý Ðăng Huy của
Ðài-loan có phải là hậu duệ
của thế tử Lý Long Hiền hay
không, thì tôi không dám quyết,
bởi Lý là giòng họ chiếm
đa số ở Trung-quốc. Trong một
bài khác, tôi sẽ trình bầy
về Thủ-tướng Lý Quang Diệu
của Singapore là Việt kiều, khai tổ
một chi họ Lý đời thứ
nhất hay Lý khác ?
(Thưa quý độc giả,
chỉ cần thử nghiệm di truyền ADN
là ra ngay).
Cả ba bộ sử ÐVSKTT,
VSL, KÐVSTGCM cùng chép rất mơ hồ
về việc vua Anh-tông phế Long Xưởng
lập Long Trát. Nhà vua có tới
bẩy hoàng tử. Nếu sự thực
Long Xưởng phạm tội, phế xuống,
sao không lập các con đã trưởng
thành, tài trí xuất chúng, đang
cầm đại quyền như Kiến Ninh,
Kiến An, Kiến Tĩnh vương? Hoặc
cùng quá, thì lập Kiến Khang vương
Long Ích, năm ấy đã chín tuổi
? Mà phải lập Long Trát mới
có 26 tháng làm Thái-tử, rồi
phải cử Tô Hiến Thành làm
phụ chính ? Cái khúc mắc này
tôi đã giải thích rất chi tiết,
rất rõ ở hồi 21-23 bộ Anh-hùng
Ðông-a dựng cờ bình Mông.
Trong bài ngắn này không
thể giải thích hết. Dưới
đây là phần tôi thuật theo Tộc-phả
Lý Hoa-sơn: Niên hiệu Kiến-trung thứ
nhì đời vua Thái-tông nhà
Trần (DL.1226, Bính Tuất), lo sợ bị
Thái-sư Trần Thủ Ðộ hãm
hại, vì vị thế trọng yếu của
mình: Là con vua Anh-tông, em vua Cao-tông,
chú vua Huê.-tông. Thân vương duy
nhất nắm quyền hành. Chức
tước cực phẩm Thái-sư
Thương-trụ quốc, Khai-phủ nghị đồng
tam tư, Thươ.ng-thư tả bộc xạ,
lĩnh đại đô đốc. Vương
âm thầm cùng Bình Hải công
Lý Quang Bật từ căn cứ Ðồn-sơn
về Kinh Bắc, lạy ở lăng miếu
Ðình-bảng. Lại đến Thái-miếu
mang bài vị, các tế khí ra trấn
Ðồn- sơn, rồi đem hết tông
tộc hơn 6 nghìn người, xuống
hạm đội ra đi. Việc Kiến Bình
vương ra đi, có lẽ bắt nguồn
từ việc ra đi của Kiến Hải
vương trước kia chăng?
Sau hơn tháng lênh đênh
trên biển, thì gặp bão. Hạm đội
phải ngừng lại một đảo (Ðài-loan?)
rồi tiếp tục lên đường.
Một trong các con của vương là
Thế-tử Lý Ðăng Hiền cùng
vợ con ở lại đảo. Hạm
đội lênh đênh trên biển
một thời gian, thì táp vào cửa
Phú-lương giang, quận Khang-linh (Ong Jin-Gun)
tỉnh Hoàng-hải (Hwang-hac) thuộc Bắc
Cao-ly. Nơi hạm đội táp vào, dân
chúng gọi là Nak-nac-wac có nghĩa
là Bến của khách phương xa có
đồ thờ cúng. Theo gia phả của
con cháu vương thì : Ðêm hôm
trước, vua Cao-tông (Kojong) của Cao-ly
mơ thấy một con chim cực lớn
bay từ phương Nam lại đậu ở
bờ Tây-hảị Tỉnh lại, vua
sai người tới đó tìm
kiếm, thì gặp hạm đội của
Kiến-bình vương. Kiến-bình vương
được bệ kiến. Vương dùng
bút đàm với vua Cao-tông và
các đại thần Cao-ly. Triều đình
Cao-tông đối xử với vương
rất tốt, chu cấp lương thực.
Cho làm nhà ở Ung-tân phủ Nam-trấn
sơn (Chin-sang).
Thế là mấy nghìn
người Việt trở thành thuyền
nhân kiều ngụ tại Cao-ly. Lý Long Tường
cùng tướng sĩ, gia thuộc bắt
đầu cuộc sống mới. Họ
trồng trọt, đánh cá, chăn nuôi
làm kế sinh nhai. Vương mở trường
dạy học: Thi phú, lễ nhạc, tế
tự, binh pháp, võ thuâ.t. Vương
soạn sách Học vấn giảng hâ.u.
Vì học trò đông, Vương cho
xây Ðộc-thư đường, Giảng
võ đường. Ðệ tử
của Vương lúc nào cũng trên
nghìn ngườị Tháng 7 năm
Quý-sửu (1253) đời vua Cao-tông
năm thứ 40, quân Mông-cổ xâm
lăng Cao-ly, vượt Hỗn-Ðồng
giang, chiếm Tây-hải, phá An-giang Tây-thành.
Về mặt thủy, Mông-cổ chiếm các
đảo Ðại-thanh, Tiểu-thanh, Sáng-lân,
rồi tiến chiếm Tây-Ðô (Giang-hoa).
Thủ-Ðô Cao-ly bị đe do.a. Các
tướng sĩ hầu hết bị tử
trâ.n. Thấy tình hình Cao-ly nguy ngập,
Kiến Bình vương đến gặp
Thái-úy (tướng tổng chỉ
huy quân đội) là Vi Hiển Khoan, cố
vấn cho ông về binh pháp Ðại-Việt.
Ðích thân vương cỡi bạch
mã chỉ huy cuộc giữ thành: Ðắp
thành cao lên, đào hào đặt
chông quanh thành. Trong thành đào
giếng để có nước uống,
tích trữ lương thảo. Vương
đem tất cả binh pháp Ðại-Việt
trong những lần đánh Tống,
bình Chiêm ra giúp Cao-ly. Ðánh nhau
suốt 5 tháng, quân Nguyên bị tuyệt
lương thảo, bị chặn đường
rút lui, xin hàng (6).
Tết năm ấy, toàn
Cao-ly mừng chiến thắng. Triều đình
khen ngợi Lý Long Tường, lấy
tên ngọn núi ở quê hương
vương là Hoa-sơn; phong cho vương làm
Hoa-sơn tướng quân. Lại cho đổi
tên ngọn núi nơi vương cư ngụ
là Hoa-sơn. (7). Nhà vua sai dựng bia
ghi công vương trên núi Hoa-sơn,
đích thân vua viết ba chữ Thụ
hàng môn (Cửa tiếp thụ giặc
đầu hàng). Cho đến nay, sau 746 năm,
trải biết bao nhiêu mưa nắng, thăng
trầm; tấm bia ấy vẫn trơ gan cùng
cùng tuế nguyệt, nhắc nhở du
khách nhớ huân công của một
Việt-kiều trên Hàn-quốc.
Ghi chú:
(6) Có một sự trùng
hơ.p. Năm năm sau, tháng 1-1258, Thái-sư
Mông-cổ là Ngột-lương Hợp-thai
(Uriyangqadai) đem quân đánh Ðại
Việt, cũng bị tuyệt đường
lương, rồi bỏ chạy. Xin đọc
Anh-hùng Ðông-a dựng cờ
bình Mông hồi (50).
(7) Tôi tra trong địa lý
thời Lý, trên lãnh thổ Ðại
Việt không có ngọn núi nào tên
Hoa-sơn cả. Có lẽ là núi Tiêu-sơn,
nơi phát tích ra triều Lý chăng
? Trong dịp thăm Hoa-sơn năm 1981, tôi
xin người đại diện tộc Lý
cho phép được mượn thợ
khắc vào một phiến đá bài
thơ cổ phong bằng chữ Trung-quốc
(Hán, Nho), đặt cạnh tấm bia trên,
gọi là chút lòng của người
sau, tế người trước. Xin
phiên âm như sau:
Ðiếu Kiến Bình
vương Phúc tại Tiêu-sơn lĩnh,
Thất đại bôn Bắc Cao, Bình Mông
danh vạn đại, Tử tôn giai phong hầu.
Học phong nhân bất cập.
Vọng quốc hồn phiêu
phiêu, Kim tải quá bát bách, Hà
thời quy cố hương?
(Ngài là người
họ Lý, được hưởng
phúc tại ngọn núi Tiêu-sơn. Kể
từ vua Lý Thái-tổ tới
ngài là đời thứ bẩy,
phải bôn tẩu đến xứ Bắc
Cao-ly. Nhờ chiến công đánh
Mông- cổ, mà con cháu ngài đều
được phong hầu. Ngoài ra, ngài
là người đem học phong tới
Cao-ly, công đức ấy không ai
sánh kịp. Thế nhưng trải trên
tám trăm năm, hồn ngài lúc
nào cũng phiêu phưởng, không
biết bao giờ được về
cố hương ?).
Ngày nay trên ngọn đồi
Julbang thuộc xã Ðỗ-môn (Tô-mơ-ki)
cách núi Hoa-sơn 10 cây số về
phía Tây còn lăng mộ ngài và
con, cháu cho đến ba đời. Trên
Quảng-Ðại sơn có Vo.ng-quốc đàn,
nơi cuối đời ngài thường
lên đó, ngày ngày nhìn về
phương Nam, ôm mặt khóc, tưởng
nhớ cố quốc. Mỏm đá
mà ngài đặt chân đầu
tiên lên bờ biển Cao- ly, được
gọi là Viê.t-thanh nham, tức đá
xanh in vết tên Việt. Trên Hoa-sơn còn
rất nhiều di tích kỷ niệm huân
nghiệp của vương. Khi đến Hoa-sơn
hành hương, thay vì chào nhau, du khách
được hướng dẫn viên
du lịch dạy cho nói câu: "Hữu
khách, Hữu khách, kỵ bạch mã."
Nghĩa là Có người khách
cỡi ngựa trắng, tức Lý
Long Tường.
Tương truyền một đạo
binh thiện chiến do Vương huấn luyện,
trở thành đạo binh bảo quốc,
đời nọ sang đời kia đều
lấy tên là Bạch-mã. Hồi chiến
tranh Viê.t-Nam (1960-1975) sư đoàn Bạch-mã
có tham chiến, trấn đóng tại
vùng Bồng-sơn, Quy-nhơn, Bình-Ði.nh.
Cho đến nay, giòng họ Lý Hoa-sơn
truyền trải 28 đời. Tại Nam-hàn
chỉ có khoảng hơn nghìn hộ. Tại
Bắc-hàn thì đông lắm, không
thống kê đươ.c. Lý tộc tại
Nam-hàn, hầu hết họ là những
gia đình có địa vị trọng
yếu về giáo dục, kinh tế, kỹ
nghê.. Kỳ ứng cử vừa
qua, một ứng viên Tổng thống họ
Lý suýt trúng cử. Theo tấm
bia trên mang tên Thu.-hàng môn bi ký,
thì Kiến Bình vương Long Tường
có nhiều con trai, tất cả đều
hiển đạt. Không thấy nói tơí
Lý Long Hiền, cùng tông tộc hơn
200 người ở lại đảo
(Ðài-loan ? ). Lý Cán Ðại lĩnh
Ðề-học nghệ văn quán, Kim-tử
quang lộc đại phụ Lý Huyền Lương,
Tham-nghị lễ tào, Chính-nghị đại
phụ Lý Long Tiền Giám-tu quốc sử.(8)
Ghi chú:
(8) Theo quan chế Tống, hồi
đó thì chức Chiêu-văn
quan đại học sĩ, giám tu quốc
sử là danh tự để chỉ
chức Tể-tướng. Không biết
quan chế Cao-ly có giống Tống không
? Nếu giống thì Lý Long Tiền đã
làm Tể-tướng. Ngày nay, tại
Bắc-hàn, cứ đến dịp
tết Nguyên-Ðán, hậu duệ của
Kiến Bình vương Lý Long Tường
khắp lãnh thổ Ðại-hàn đều
kéo về Hoa-sơn để dự lễ
tế tổ (Luật pháp Nam-Bắc Hàn
đều cấm ngặt người Nam-Hàn
du lịch Bắc-Hàn. Thế nhưng, hầu
hết các hậu duệ tại Nam-hàn đã
dùng phi cơ sang Trung-quốc, rồi từ
Trung-quốc vào Bắc-hàn. Khi những
hậu duệ Nam-Bắc Hàn gặp nhau, họ
ôm nhau khóc nức nở. Sự
kiện này chính phủ Nam-Bắc Hàn
nhắm mắt lờ đi, vì tộc
Lý dù ở Nam hay Bắc họ đều
giữ những chức vụ trọng
yếu). Khởi đầu của cuộc
tế, đánh chín tiếng trống,
gọi là âm-thanh để mọi người
cùng tưởng nhớ cố quốc.
Theo gia phả của chi Thuận-xuyên, sở
dĩ đánh chín tiếng, vì muốn
ghi lại triều Lý trải 9 đời
vua, kể cả Lý Chiêu-hoàng. (9) Năm
1995, con cháu của Kiến Bình vương
Lý Long Tường, quy tụ hơn trăm
người trở về Ðình-bảng,
huyện Tiên-sơn, tỉnh Bắc-ninh dự
lễ hội làng vào ngày rằm
tháng ba Âm-li.ch. Tại thiên chi linh, hẳn
9 đời vua triều Tiêu-sơn, cũng
như Kiến Bình vương Lý Long Tường
đã thỏa nguyện:
Những đứa
cháu lưu lạc, nay trở về chầu
tổ.
Lời quê gửi
tới người Việt hải ngoại.
Hiện nay gần ba triệu người Việt
lưu lạc khắp mọi góc biển, mọi
chân trời. Có nơi sống tập
trung như Hoa-kỳ, Thái-lan, Cao-miên, Ai-lao,
Canada, Úc, Pháp, Nga-sộ Có nơi sống
rải rác cô độc như Do-thái,
Irak, Gabon...Nhìn vào tấm gương của
hai giòng họ Lý tại Ðại-hàn.
Dù con cháu quý vị không còn
nói được tiếng Việt. Dù
con cháu quý vị đã kết hôn
với người địa phương.
Nhưng quý vị phải luôn nhắc nhở
cho chúng biết rằng: Chúng là người
Việt, lấy chủ đạo là con Rồng
cháu Tiên. Xin qúy vị khẩn chép
lại:
1- Nguồn gốc giòng họ
mình từ làng nào, xã nào,
tỉnh nào.
2- Hoặc liên lạc với
họ hàng trong nước để xin
bản sao gia phả.
3- Tiểu sử những
tiền nhân. Nếu không nhớ được
hành trạng của các tổ xa đời,
thì ít ra cũng chép được
từ đời ông, đời
cha.
4- Rời Viêt-Nam ra đi
vì lý do gì? Bắt đầu đến
đâu? Lập nghiệp ra sao? Mỗi năm
vào dịp tết, quý vị sai đọc
cho tất cả con cháu đều nghe.
5- Hằng năm, nếu có
thể, khuyên con cháu, nên trở
về quê hương, viếng thăm đất
tổ, thăm mồ mả tiền nhân.
6- Khi về già, các vị
sai chép những gì quý vị chi
thành ra thành nhiều bản, cho mỗi
con một bản, và dặn con cháu chép
tiếp...
Vài lời thô thiển.
Biết rằng các vị cho là thường.
Thưa quý vị, tộc Việt ta vốn là
con Rồng, cháu Tiên. Biết đâu
trăm năm sau, nghìn năm sau, con cháu
quý vị có thể là Tổng-thống
Hoa-kỳ, Nga-sô hay Thủ-tướng Ðức,
Do-thái.Và biết đâu con cháu
quý vị không thành Thủ-tướng
Trung-quốc.
Bây giờ những
gì quý vị coi là thường,
bấy giờ sẽ trở hành
quý báu vô cùng. Mong lắm thay!
Cầu xin như vậy đấy.
Yên-tử cư-sĩ
Trần Ðại-Sỹ
(Những tài liệu tôi
dùng để viết bài này rất
phong phú, rất nhiều. Xin xem phần Những
nguồn tài liệu, trong bộ Anh-hùng Ðông-a
dựng cờ bình Mông, quyển
1, do Ðại-Nam Hoa Kỳ ấn hành )
Ghi chú. (9) Chín đời
vua triều Lý là:
1. Thái-tổ Lý Công
Uẩn.
2. Thái-tông Lý Ðức
Chính.
3. Thánh-tông Lý Nhật
Tông.
4. Nhân-tông Lý Càn
Ðức.
5. Thần-tông Lý Dương
Hoán.
6. Anh-tông Lý Thiên Tô..
7. Cao-tông Lý Long Trát.
8. Huê.-tông Lý Long Sảm.
9. hiêu-hoàng Lý Phật
Kim.
Ðền thờ tám
vị vua triều Lý (Lý Bát-Ðế
từ) tại Bắc-ninh
1. Tượng thờ vua
Lý Thái-tổ
2. Tượng thờ
vua Lý Thái-tông
3. Tượng thờ
vua Lý Thánh-tông
4. Tượng thờ
vua Lý Nhân-tông
5. Tượng thờ
vua Lý Thần-tông
6. Tượng thờ
vua Lý Anh-tông
7. Tượng thờ
vua Ly Cao-tông
8. Tượng thờ
vua Lý Huê.-tông
"Hồ mã tê Bắc
phong, Việt điểu sào Nam chi"
Nghĩa là: Con ngựa
đất Hồ (vùng Bắc Trung-quốc)
khi bị đưa vào Trung-nguyên, mỗi
khi gió Bắc thổi, nó nhớ quê,
hý lên, buồn thảm. Còn con chim Việt,
lạc sang Trung-nguyên, khi làm tổ, bao giờ
nó cũng làm ở cành phía
Nam.
* * *
(Kính thưa niên trưởng
Trần Ðại Sỹ. Tôi đã
đọc bài này của niên trưởng
với những cảm giác bồi
hồi, xúc động khi nghi về những
đạn đường phiêu lạc
của người xưa và cảnh lưu
vong của người Việt và chính
mình ngày nay.
Tôi đã mạn phép
chạy đăng lại bài biên khảo
quý giá này cùng những ước
muốn trân quý của niên trưởng
về việc ghi lại nguồn gốc của
thế hệ Việt nam tha hương trên đất
khách. Ða tạ niên trưởng.
Lê Khắc Anh Hào).
|